TOP TRAVEL SITES

The Points GuyTime OutAtlas ObscuraTrip SavvyLonely PlanetTravel + LeisureTravel ChannelBoardingAreaOutside MagazineConde Nest TravelerFodor'sSmarterTravelRick Steves' EuropeFrommer'sOutdoor LifeBackpackerSunsetMidwest LivingAfarRough GuidesCoastal LivingSkiftIslands

TOP HEALTH & FITNESS SITES

National Institutes of HealthWebMDHealthlineLIVESTRONG.COMMayo ClinicPsychology TodayMedscapeMen's HealthEverydayHealth.comMercolaMen's FitnessVery WellGreatistShapePreventionSelfHealthWomen's HealthRunner's WorldMindBodyGreenWell & GoodMuscle & FitnessFitness MagazineDoctor Oz

Thính giả Anh Vy hỏi: “Thưa Bác sĩ, Tôi vừa đọc bài viết của Bác sĩ về bệnh ALS và MND. Tôi cũng là bệnh nhân của căn bệnh đó,  nên muốn xin hỏi Bác sĩ là có mấy dạng tiến triển của bệnh ạ? Và đường đi thường xuyên nhất của căn bệnh này ạ? Cám ơn Bác sĩ nhiều ạ." Bác sĩ Hồ Văn Hiền trả lời:  Cũng như mọi khi tôi xin nói rõ trước là những nhận xét sau đây chỉ có tính cách thông tin tổng quát, không áp dụng cho cá nhân và không có mục đích giúp thính giả tìm cách tự chữa bịnh. Bịnh "Xơ cứng cột bên teo cơ", thuật ngữ này dịch tên tiếng Anh là “Amyotrophic lateral sclerosis “(ALS), tiếng Pháp là la sclérose latérale amyotrophique. Tóm tắt, đây là một bịnh gây liệt các cơ do các tế bào thần kinh vận động (motor neuron) phụ trách điều khiển các cơ này nằm trong não bộ và tủy sống bị thoái hoá, hư hại. Chúng ta phân tích từ này để hiểu bịnh hơn: amyotrophic: a= không có myo=cơ bắp, bắp thịt; trophy nuôi dưỡng; các cơ không được nuôi dưỡng tử tế, nên bị teo lại, nói ngắn là "teo cơ". Bình thường các cơ bắp được nối liền với dây thần kinh vận động đi từ các nơ-ron (neuron, tế bào thần kinh) vận động trong sừng trước của tủy sống; các tế bào này lại liên kết với nơ-ron võ vận động (motor cortex neuron) trên não bộ qua một bó dây thần kinh (tương tự như một bó dây điện), bó này gọi là “đường vỏ não-tuỷ sống bên” (lateral corticospinal tract), có nghĩa là nằm một bên , khác với đường trước và đường sau. sclerosis= tình trạng xơ ALS có thể được chia ra căn cứ các hình thức bịnh lý khác nhau. Thông thường nhất, phân loại dựa trên nguyên nhân cơ bản của bệnh, “sporadic ALS” ( lẻ tẻ) hoặc familial ALS (theo gia đình). ALS cũng có thể được phân loại theo khởi phát lâm sàng hoặc tiến triển của bệnh. Phân loại theo nguyên nhân: a) ALS lẻ tẻ (sporadic ALS) ALS lẻ tẻ là dạng ALS phổ biến nhất, chiếm khoảng 90% đến 95% các trường hợp ở Mỹ, trong gia đình không có ai khác mắc bịnh. Có thể một số yếu tố di truyền có thể làm tăng nhẹ nguy cơ phát triển ALS lẻ tẻ, nhưng không trực tiếp gây ra bệnh. b) ALS gia đình Bịnh có tính cách gia đình, hoặc di truyền (hereditary), với nhiều trường hợp bịnh ALS xảy ra trong một gia đình; chiếm khoảng 5% đến 10% các trường hợp. Có thể được gây ra bởi một trong số đột biến di thể (trên các nhiễm thể) được truyền từ cha mẹ sang con cái theo gen trội nằm trên nhiễm thể autosome (autosomal dominant), không phải nhiễm thể tính dục (không phải chromosome X hay Y). Điều này có nghĩa là nếu cha hay mẹ có ALS loại gia đình, nguy cơ bịnh này truyền qua mỗi đứa con là 50%. Một số đột biến gen đã được xác định và liên kết với ALS gia đình, và có thể còn những đột biến khác vẫn chưa phát hiện. Lỗi phổ biến nhất, liên quan đến 25%- 40% các trường hợp ALS gia đình, là ở một gen có tên C9ORF72. Những lỗi trên gen này cũng liên quan đến chứng "lẫn trán-thái dương" (FTD/frontotemporal dementia); bịnh lẫn, mất trí nhớ do những tổn thương trên thuỳ não trán và thái dương. Những người có đột biến gen này có thể phát triển cả hai bệnh cùng một lúc, được gọi là ALS-FTD. Một dạng ALS gia đình khác là "phức hợp 1 gồm ALS-bịnh Parkinson và bịnh lẫn" ( ALS-parkinsonism-dementia complex 1"[ALS-PDC]) hay bịnh Lytico-bodig, trong đó bệnh nhân có triệu chứng của cả 3 bịnh này. Hình thức này thường gặp nhiều nhất ở Nhật Bản và đảo Guam. Các gen khác được biết có liên quan đến ALS loại gia đình bao gồm superoxide effutase 1 (SOD1), TARDBP, FUS và ubiquilin 2 (UBQLN2).Các nhà sản xuất thuốc đang thử nghiệm lâm sàng những chất dược học có thể tác dụng trên cơ chế gen, ví dụ chất Tofersen của Biogen có thể làm giảm chất độc "SOD1 protein" hiện diện trong loại ALS SOD1. Phân loại theo cách khởi phát trên lâm sàng a) ALS tuỷ sống (spinal ALS) Khoảng 2/3 bệnh nhân ALS có dạng khởi phát ở tuỷ sống. Các triệu chứng ban đầu của hình thức này bao gồm yếu cơ hoặc teo cơ ở cánh tay và cẳng chân, và các sợi cơ bắp co thắt ngoài ý muốn dẫn đến chứng giật cơ. Bệnh nhân mắc ALS dạng tuỷ sống có xu hướng tiến triển đến tê liệt hoặc tử vong trong vòng 3 đến 5 năm. Chừng 10% bịnh nhân ALS sống lâu quá 10 năm sau khi phát hiện ALS. Hình thức này đôi khi cũng được gọi là ALS Charcot cổ điển (classical Charcot ALS, Charcot’s disease). (Trong lịch sử y khoa, qua bệnh xơ cứng cột bên teo cơ, bác sĩ thần kinh người Pháp Jean-Martin Charcot (1825-1893) chứng minh được sự liên quan giữa các triệu chứng thần kinh đặc thù với các tổn thương chất xám và chất trắng tại các vị trí cụ thể trong hệ thống thần kinh trung ương. Charcot gọi đây là “phương pháp giải phẫu-lâm sàng” ( "méthode anatomoclinique"). Sử dụng các trường hợp lâm sàng và khám nghiệm tử thi, ông đã chỉ chứng minh các tổn thương giải phẫu (cơ thể học, anatomic) trong hệ thống thần kinh có thể được xác định chính xác bằng cách phân tích các dấu hiệu lâm sàng. Công trình của Charcot về bệnh ALS tập hợp về một mối các bịnh trước đây được coi là những bịnh khác nhau, một bên là bịnh các cơ, teo cơ nguyên phát (primary amyotrophy) và một bên là bịnh của hệ thần kinh, xơ cứng cột bên nguyên phát (primary lateral sclerosis). Ngoài ra, những nghiên cứu này đã góp phần vào sự hiểu biết về giải phẫu tủy sống và thân não và tổ chức của hệ thống thần kinh bình thường. Do những đóng góp cơ bản của Charcot, biệt danh "Bệnh Charcot" đã được sử dụng trên phạm vi quốc tế liên quan đến bệnh xơ cứng cột bên teo cơ. (Theo CG Goetz, Muscle Nerve. 2000 Mar;23(3):336-43.) b) Dạng hành tuỷ (Bulbar ALS) Bulbar= thuộc về hành tuỷ; bulb, nay gọi là medulla oblongata, hình nón cụt nằm giữa cầu não phía trên và tuỷ sống bên dưới, phía trước của tiểu não; chứa những nhóm tế bào thần kinh quan trọng, xử lý những chức năng chính yếu như sự hô hấp, tuần hoàn (nhịp tim, áp huyết), kiểm soát các cơ năng tự động (ngoài ý muốn) như nhảy mũi, ói mửa. Ở dạng hành tuỷ của ALS, các cơ liên quan đến nói, nuốt và thở nói chung là những cơ đầu tiên bị ảnh hưởng. Các triệu chứng ban đầu bao gồm nói ngọng và khó nuốt. Tuy nhiên, yếu cơ có thể nhanh chóng tiến đến cánh tay và đùi, cẳng chân, gây khó khăn cho việc phân biệt giữa ALS tuỷ sống và hành tủy. ALS hành tuỷ hơi phổ biến hơn ở phụ nữ và những người trên 70 tuổi; bệnh nhân có thể bị tê liệt sau một đến hai năm. c) Các hình thức khác của ALS Một dạng bệnh khác được gọi là Guamanian ALS và đặc biệt phổ biến ở người dân đảo Guam và một số đảo ở Tây Thái Bình Dương (Micronesia). Nguyên nhân chính xác của hình thức này không được biết. d) Hai dạng ALS hiếm khác: 1) ALS ở người vị thành niên (juvenile ALS), một dạng cực kỳ hiếm, đúng như tên gọi của nó, ảnh hưởng đến trẻ em, thanh thiếu niên và thanh niên dưới 25 tuổi. Một trường hợp nổi tiếng, ALS xảy ra sớm, lúc còn rất trẻ (thay vì ở tuổi trung niên) và tiến triển rất chậm: Stephen Hawking (1942-2018), nhà vật lý lý thuyết, giáo sư toán học, dạy học viết sách không ngừng nghĩ. Toàn thân, tay chân hoàn toàn tê liệt và ông viết và nói qua máy computer mà ông điều khiển bằng cơ trên má của ông. Hawking mắc chứng này rất sớm, lúc 21 tuổi (1963), và nhờ dạng ALS này tiến triển rất chậm so với các trường hợp khác, trên 50 năm sau, ông vẫn còn sống với trí óc minh mẫn, vẫn mơ đi du lịch trong vũ trụ, là một trong những bộ óc vĩ đại nhất trong thế giới. 2) Loại kia là “ primary lateral sclerosis” ( PLS, xơ cứng cột bên nguyên phát). PLS cũng là một bịnh của nơ- ron vận động như ALS nhưng tiến triển chậm hơn rất nhiều (trung bình 20 năm) và phần đông không gây tử vong. Loại PLS người lớn không phải do di truyền. Loại PLS người trẻ (juvenile PLS ) do đột biến gen ALS2 phụ trách sản xuất protein aslin của tế bào thần kinh làm cho protein này bất ổn, hoạt động bất bình thường; gen ALS2 di truyền theo lối autosomal recessive, có nghĩa là phải cả hai người cha lẫn mẹ mang có di thể này (carrier) thì con mới mang bịnh (cơ nguy 50%). “Đường đi thường xuyên nhất của căn bệnh” Khởi đầu ALS có thể rất tinh vi đến nỗi các triệu chứng không được bác sĩ nhận ra nhưng dần dần các triệu chứng này phát triển thành chứng cơ yếu hoặc teo rõ ràng hơn, khiến bác sĩ nghi ngờ ALS. Một số triệu chứng ban đầu bao gồm: co giật cơ (fasciculation) ở cánh tay, chân, vai hoặc lưỡi "chuột rút" cơ bắp (muscle cramps) cơ bắp căng và cứng (tight and stiff muscles) (co cứng) yếu cơ ảnh hưởng đến một cánh tay, chân, cổ hoặc cơ hoành (diaphragm). nói đớt và nói giọng mũi khó nhai hoặc nuốt. Dấu hiệu đầu tiên có thể là khó khăn cài nút áo, cầm viết hay vặn chìa khoá, cũng có thể là một chân không vững và người bịnh dễ té ngã hay dễ bị vấp. Người có ALS dạng hành tuỷ có thể bắt đầu bằng thay đổi trong giọng nói, phát âm, nuốt khó khăn vì những tế bào vận động phụ trách các cơ liên hệ nằm trong vùng hành tủy (medulla oblongata), phía trên tuỷ sống. Dù bắt đầu ở đâu, các triệu chứng sẽ lan truyền qua các vùng khác, cho đến lúc bịnh nhân không đi đứng được nữa, không lên xuống giường được và không còn sử dụng cánh tay, bàn tay. Họ có thể suy dinh dưỡng do nuốt khó, ăn vào thì ít, mà cơ thể họ lại dùng năng lượng nhiều hơn người không mắc bịnh. Người mắc ALS thường duy trì các khả năng cao hơn như lý luận, ghi nhớ, hiểu và giải quyết vấn đề, họ nhận thức được sự mất dần dần của chức năng và có thể trở nên lo lắng và trầm cảm. Tuy nhiên một số nhỏ có thể gặp khó khăn dùng ngôn ngữ hoặc khả năng quyết định, và ngày càng có nhiều bằng chứng cho thấy một số thậm chí có thể phát triển một dạng bịnh lẫn, (mất trí nhớ) theo thời gian. Những người mắc ALS sẽ khó thở khi các cơ của hệ hô hấp suy yếu. Cuối cùng họ mất khả năng tự thở và phải phụ thuộc vào máy thở. Nguy cơ viêm phổi trong giai đoạn sau của bệnh. “Chuột rút” cơ bắp có thể làm khổ sở, một số người mắc ALS có thể bị đau dây thần kinh. Vì đây là một bịnh nghiêm trọng, phần định bịnh rất quan trọng, có khi cần ý kiến nhiều người, nhiều nơi để định bịnh chính xác, không nhầm lẫn với những bịnh khác có thể có những triệu chứng tương tự, và do đó có dự hậu (prognosis) hoàn toàn khác. Những nhận xét ở trên chỉ có tính cách thông tin. Bịnh nhân cần quan sát, ghi chú rõ ràng về các triệu chứng của mình và tốt hơn hết nhờ bác sĩ gia đình, bác sĩ chuyên khoa thần kinh, vật lý trị liệu và di truyền (nếu có) giải quyết vấn đề định bịnh rất phức tạp, cũng như để điều trị thích hợp. Chúc bịnh nhân may mắn. Tham khảo: 1)Forms of ALS https://alsnewstoday.com/forms-of-als/ 2) https://www.ncbi.nlm.nih.gov/pubmed/10679709 3)https://www.ninds.nih.gov/Disorders/Patient-Caregiver-Education/Fact-Sheets/Amyotrophic-Lateral-Sclerosis-ALS-Fact-Sheet 4)https://alsnewstoday.com/2019/05/03/biogen-tofersen-reduces-toxic-sod1-protein-levels-familial-als/ Bác sĩ Hồ văn Hiền Ngày 6 tháng 5, năm 2019 Quý vị có thể xem và nghe lại các bài giải đáp trên mạng Internet ở địa chỉ voatiengviet.com Quý vị muốn được giải đáp các thắc mắc về những vấn đề y học thường thức, xin gọi đến số (202) 205-7890, hoặc E-mail đến địa chỉ .
 
Tòa Trọng tài Thể thao phán quyết rằng quy định này là cần thiết phải áp dụng cho các vận động viên bị “rối loạn phát triển giới tính” để đảm bảo một sân chơi công bằng..
 

Đau vùng thái dương và hàm

Thính giả Trần Thị Xuân Liễu hỏi: “Thưa Bác sĩ, Em bị trình trạng hàm dưới bên phải run giật liên tục. Khi run có cảm giác như có nguồn điện chạy qua, rất đau đớn và khó chịu. Hiện tại em không thể nói hay ăn uống gì. Tại khi cử động là hàm sẽ bị co giật. Em đi thăm khám thì báo bị viêm dây thần kinh số 7. Nhờ Bác sĩ tư vấn giùm. Cảm ơn Bác sĩ." Bác sĩ Hồ Văn Hiền trả lời:  1) Dây thần kinh sọ số 7 hay dây thần kinh mặt (facial nerve) phụ trách vận động ở mặt (thay đổi các nét mặt) là chính, và phụ trách cảm giác ở 2/3 trước của lưỡi và một vùng nhỏ ở tai. Tôi không biết bệnh” viêm thần kinh 7” gây ra những chứng mà thính giả mô tả. Tôi xin bàn đến một hội chứng có thể liên hệ đến đề tài này với mục đích thông tin mà thôi. Đau ở vùng hàm có thể do rối loạn ở khớp giữa xương thái dương và xương hàm (Temporo maxillary joint/TMJ). Ở những bệnh nhân có khớp thái dương-hàm bình thường, cơn đau một bên hàm có thể thuộc về "Hội chứng đau cơ-cân" (myofascial pain syndrome, myo=cơ, bắp thịt; fascia= cân= màn gân bao bọc bắp thịt) do stress, mệt mỏi, hoặc co thắt trong các cơ nhai (cơ hình cánh, thái dương và masseter) gây ra. Hội chứng này là rối loạn phổ biến nhất ảnh hưởng đến vùng thái dương-hàm. Phổ biến hơn ở phụ nữ và xảy ra nhiều hơn lúc 20-30 tuổi và khoảng thời gian mãn kinh. Hội chứng đau myofascial không giới hạn ở các cơ phụ trách nhai. Nó có thể xảy ra bất cứ nơi nào trong cơ thể, phổ biến nhất là liên quan đến cơ bắp ở cổ và lưng. 2) Bác sĩ chẩn đoán dựa trên bịnh sử (medical history) và khám bịnh nhân, những điểm nhạy đau (muscle knots) và tình trạng khớp TMJ. Các triệu chứng bao gồm: -Chứng nghiến răng (thường là lúc ngủ ban đêm, bruxism), vì những cơ nhai co mạnh và lâu dài lúc nghiến răng, sẽ có những vùng trong cơ nhai mà máu không cung cấp đủ dinh dưỡng và oxy, tạo nên "điểm kích hoạt" (trigger points, muscle “knots”) trong cơ nhai, do đó một nhóm sợi cơ (chứ không phải nguyên cơ bắp) ở trong tình trạng co rút thường trực, gây đau tại chỗ hay ở một nơi khác , và nhạy cảm lúc đụng vào, nhấn vào. Các điểm này là nơi xuất phát các cơn đau. Chứng nghiến răng có thể do mặt tiếp xúc của hai hàm răng không đều, tinh thần căng thẳng, hoặc rối loạn giấc ngủ. Bruxism có thể một hay nhiều yếu tố cọng lại gây ra, và nguyên nhân đích thực còn là đề tài tranh luận. -Cơn đau tự phát, hay đau lúc đụng chạm (tenderness) vào trong và xung quanh các bộ phận phụ trách nhai; điểm đau có thể ở một vùng kế cận, ngoài các cơ khớp dùng để nhai, nhưng liên hệ (referred pain) ở đầu và cổ, -Nhiều khi hàm dưới cử động không bình thường. -Cơ nhai đau hay nhạy lúc đụng, sờ vào. Hàm dưới có thể cử động giới hạn như không mở miệng lớn được. -Chứng nghẹt mũi về đêm và hơi thở bị rối loạn giấc ngủ, như ngưng thở khi ngủ do tắc nghẽn (obstructive sleep apnea) và “ hội chứng sức cản dòng không khí trong đường hô hấp trên” ( upper airway resistance syndrome [UARS) chỉ gây ngáy nhẹ) có thể dẫn đến đau đầu nghiêm trọng hơn khi thức dậy và giảm dần trong ngày. -Có thể nghiên cứu tình trạng bịnh nhân lúc đang ngủ: Bịnh nhân sẽ được quan sát trong một phòng ngủ trang bị đặc biệt để theo dõi oxy trong máu, nhịp thở, nhịp tim (ECG), cơ điện đồ (EMG), cử động các cơ điều khiển hai tròng mắt ( EOG, theo dõi các cử động mắt trong từng giai đoạn của giấc ngủ.) Test này gọi là polysomnography (poly= nhiều, somno= ngủ, gram =đồ ). -Các triệu chứng mệt mỏi cơ hàm, đau hàm và đau đầu, có thể trở nên tồi tệ hơn nếu tình trạng nghiến răng tiếp tục trong suốt cả ngày. Một test đơn giản có thể giúp chẩn đoán: nhẹ nhàng nhét giữa các răng hàm phía sau ở mỗi bên hai ba cây đè lưỡi và bệnh nhân được yêu cầu từ từ ngậm miệng. Không gian khớp TMJ thoải mái hơn có thể làm giảm các triệu chứng. X-quang thường không có ích ngoài việc loại trừ viêm khớp. 3) Điều trị: Thuốc giảm đau nhẹ, chẳng hạn như NSAID ( vd ibuprofen hay Motrin) hoặc acetaminophen (hay Tylenol), Trong một số trường hợp đau mãn tính, bác sĩ có thể cần chữa trầm cảm kèm theo . Thuốc an thần (anxiolytic) khi đi ngủ Nẹp nhựa "splint", hoặc "mouth guard" bảo vệ miệng do nha sĩ tạo ra theo ni của hàm có thể giữ cho răng không tiếp xúc với nhau và ngăn ngừa những thiệt hại gây ra bởi bệnh nghiến răng. Có thể mua cá mouthguard làm sẵn, và uốn nắn được lúc hơ nóng ở cửa hàng bán đồ thể thao hoặc nhà thuốc; tuy nhiên, các loại nẹp này nên được sử dụng trong thời gian ngắn và dùng thử xem có giúp ích hay không. Vì răng có thể di chuyển, nên có dụng cụ bảo vệ miệng được nha sĩ chế tạo đúng cách. Nẹp răng là phương pháp điều trị nha khoa phổ biến nhất đối với các rối loạn khớp thái dương hàm (TMDs); sử dụng trong thời gian ngắn và không gây ra thay đổi vĩnh viễn ở răng hoặc hàm. "Nẹp răng" (dental splint), hay "nẹp khớp cắn" (occlusal splint), gồm tấm cắn (bite plate) và miếng bảo vệ miệng (mouth guard), được nha sĩ chế theo kích thước của bịnh nhân, làm bằng nhựa trong. Bịnh nhân mang nẹp bao bọc trên mặt răng, giữa hàm răng trên và dưới. Nẹp răng có thể giúp giảm tính căng thẳng của các cơ nhai và ổn định hàm. Nẹp làm người bịnh không nghiến răng được vì nghiến chặt hàm (bruxism) có thể gây căng cơ và đau. Nẹp được đeo chủ yếu vào ban đêm, vì đa số có xu hướng nghiến răng trong khi ngủ. Bệnh nhân cần làm quen với việc đeo và chăm sóc nẹp, và có thể cần điều trị trong 3 tháng trở lên. Trường hợp đĩa đệm khớp hàm bị di chuyển (disc displacement) và co thắt cơ nhai, có thể nên đeo nẹp vào ban ngày và ban đêm trong khoảng 2 tuần, và sau đó chỉ đeo ban đêm trong thời gian bị căng thẳng và đau. Nhờ vậy có thể cho phép một đĩa bị dịch chuyển trở về vị trí bình thường. Nẹp có thể giúp ích để điều trị đau và căng cơ cho nhiều người bị rối loạn đau khớp thái dương-hàm (TMD, temporomandibular disorder). Bệnh nhân phải học cách ngừng nghiến răng và nghiến răng khi thức dậy. Tránh thức ăn khó nhai và kẹo cao su. Các phương thức vật lý: --kích thích dây thần kinh xuyên da (TENS)  --phun và giãn (spray and stretch): kéo từ từ cho hàm mở ra lớn ra sau khi da trên vùng bị đau đã được làm lạnh bằng nước đá hoặc phun chất làm lạnh da, như ethyl clorua. Gần đây người ta bắt đầu dùng độc tố Botulinum để làm giảm co thắt cơ trong hội chứng đau cơ. Đại đa số bệnh nhân, dù không được điều trị, được khỏi các triệu chứng đáng kể trong vòng 2 đến 3 năm. Chúc bịnh nhân may mắn. Bác sĩ Hồ Văn Hiền Ngày 1 tháng 5 năm 2019 Quý vị có thể xem và nghe lại các bài giải đáp trên mạng Internet ở địa chỉ voatiengviet.com Quý vị muốn được giải đáp các thắc mắc về những vấn đề y học thường thức, xin gọi đến số (202) 205-7890, hoặc E-mail đến địa chỉ .
 
Cứ 5 bệnh nhân mắc bệnh Ebola thì có 1 người phát triển các vấn đề về mắt nghiêm trọng sau khi thoát khỏi Ebola. Đây là một trong nhiều vấn đề mà các bác sĩ đã lưu ý sau khi dịch Ebola bùng phát ở Tây Phi năm 2014.
 

Nhiễm ký sinh trùng từ chó mèo

Thính giả Cang Nguyễn hỏi: “Thưa Bác sĩ, Em bị ngứa đi xét nghiệm máu thì chẩn đoán là nhiễm sán chó. Em xin Bác sĩ tư vấn cho em là nên dùng loại thuốc nào điều trị ạ. Cảm ơn Bác sĩ” Bác sĩ Hồ Văn Hiền trả lời:  Chó mèo có thể bị nhiễm nhiều loại ký sinh trùng như "sán tròn" hay giun đũa (roundworm), sán dây (tapeworm), sán móc (hookworm, ancylostoma); các loại sán này có thể được truyền qua người qua đường miệng hoặc qua đường da. Ví dụ sán móc có thể chui vào da lúc người đi chân không trên bãi biển, trong vườn có phân chó, chỗ nó chui vào da gây ngứa đỏ và có thể thấy đường đỏ ngoằn ngoèo đi dưới da (cutaneous larva migrans). Thường gặp nhất là sán tròn toxocara canis (chó) hay T. cati (mèo) gây ra bịnh toxocariasis. Hầu như thế nào con chó cũng có bị toxocara một vài lần trong đời và bác sĩ thú y thường cho xổ (tẩy) lãi đều đặn. Hết 20% chó trưởng thành và 50% chó con mắc Toxocara. Chó mẹ truyền qua chó con lúc có thai và lúc cho con bú. Ký sinh trùng thải ra từ phân chó rất nhiều, mỗi con sinh ra cả 200,000 trứng, và các trứng này có thể sống sót qua nhiều năm ngoài trời, trong các bãi các em bé hay đến chơi. Ở Mỹ, thường là trẻ con mắc bịnh này, nhất là vùng khí hậu ẩm ướt và nóng (ví dụ miền nam), do chơi các nơi đất bị nhiễm trứng sán do chó hay mèo đi cầu ở đó mà chủ không hốt lên và bỏ đi vào thùng rác. Trứng sán cần phát triển trong đất một thời gian mới gây bịnh được; nếu bé chỉ tiếp xúc trực tiếp với con chó hay con mèo thì không bị nhiễm Toxocara. Trẻ có tật ăn đất (pica) dễ bị bịnh này. Trứng do người nuốt vào ruột non, nảy nở ở đó, rồi thành ấu trùng đi theo dòng máu chui vào gan, phổi , mắt, não bộ (second stage larva, visceral larva migrans/VLM) và mắt (ocular larva migrans), sẽ bị bọc lại bằng một màng bao quanh (encyst) trong một bộ phận của con người, gây ra phản ứng viêm cục bộ trong một bộ phận vì con người chỉ là ký chủ "tình cờ", bất đắc dĩ của toxocara (accidental host); ký sinh trùng không trưởng thành được và không đi hết chu kỳ. Ngược lại, lúc được nuốt vào ruột chó hoặc mèo, trứng thành ấu trùng (larva) sẽ lên phổi, nuốt trở lại vào ruột  trưởng thành ở trong ruột con chó, mèo và sinh trứng tiếp). Gà, thỏ, cừu cũng là ký chủ bất đắc dĩ. Người cũng có thể bị nhiễm toxocara do ăn thịt gà, thịt cừu, thịt thỏ chưa nấu chín nếu những con vật này chứa những ấu trùng trong thịt của nó. Người bịnh có thể không có hay có ít hay nhiều triệu chứng. Nhẹ thì mệt mỏi, ho, nhức đầu, mất ngủ, khó chịu, đau bụng. Có thể triệu chứng nặng hơn như khò khè khó thở, nhất là trẻ em. Khám thấy gan lớn, hạch lâm ba sưng. Ký sinh trùng có thể di đến mắt (ocular larva migrans, có thể bị định bịnh nhầm là u bướu mắt ở trẻ em, có thể gây mù mắt một bên). Thử máu sẽ thấy những dấu hiệu của cơ thể phản ứng với ký sinh trùng như các tế bào eosinophil tăng cao (hypereosinophilia), lượng kháng thể (immunoglobulin) tăng cao (hypergammaglobulinemia). Thử nghiệm máu  (serological testing) giúp phát hiện nhiễm toxocara (enzyme immunoassay (EIA) with larval stage antigens extracted from embryonated eggs, Toxocara excretory-secretory (TES) antigens ) tìm và đo các kháng thể đặc thù với antigen của con ký sinh trùng, chứng minh là cơ thể đã tiếp cận với ký sinh trùng. Tuy nhiên, người có sán lãi cũng có thể phản ứng chéo với Toxocara canis. Người ta khuyến cáo không nên căn cứ trên một thử nghiệm thôi mà chẩn đoán mắc bịnh Toxocara. Các thử nghiệm này có mức chuyên biệt và nhạy cảm cao đối với ấu trùng di chuyển trong nội tạng nhưng ít nhạy hơn đối với ấu trùng di chuyển vào mắt.Thử nghiệm có thể phản ứng chéo với các giun sán khác, và bác sĩ quyết định có cần cho thuốc chữa hay không, dùng thuốc gì, và liều lượng thế nào tùy theo từng trường hợp. Khả năng một người VN trung bình có các ký sinh trùng  trong người cũng khá cao. Theo Bác sĩ Nguyễn Ngọc Ánh, chuyên khoa Ký sinh trùng (VN) cho biết hiện nay tỷ lệ nhiễm giun sán chó/mèo - toxocara trong dân số VN rất cao. “Đặc biệt những loại thuốc xổ giun uống một liều dự phòng thông thường không diệt được chúng. Một khảo sát về tình hình nhiễm giun tròn đường tiêu hóa trong 177 con chó tại một số địa phương tỉnh Thanh Hóa cho thấy qua mổ khám, tỷ lệ chó nhiễm toxocara canis chiếm từ 10-25% và qua xét nghiệm phân là từ 22,8-40%. Ngoài ra một khảo sát trên 90 mẫu rau sống bán tại các siêu thị trên địa bàn TP HCM, số mẫu rau nhiễm trứng giun đũa chó, mèo chiếm đến 67,7% “-(News.zing.vn; 18-9-2015). Theo Viện Thú Y VN (12/2018) tỷ lệ nhiễm giun đũa khá cao ở chó (37,7% và 24,3%), mèo (47,8% và 38,3%) tại Hà Nội và Hưng Yên. Chó mèo nuôi thả rông và đi vệ sinh bừa bãi  tại Hà Nội và một số ít được nuôi nhốt  được thả ra vào buổi sáng sớm để đi vệ sinh, phân chuồng chó mèo bị đổ ra mương ở trước nhà  là điều kiện thuận lợi cho việc phát tán mầm bệnh. Bên cạnh đó, thói quen ăn rau sống, trẻ em nghịch đất, cát  và thường xuyên ôm chó mèo vào lòng là  nguy cơ làm lan truyền mầm bệnh từ chó mèo sang người. Ngoài ra, việc hạ sốt cho trẻ con bằng các loại nước lá như nhọ nồi hoặc ăn rau má, diếp cá vào mùa hè cũng tiềm tàng nguy cơ nhiễm ấu trùng giun đũa chó mèo sang người. Kiểm tra trên người cho thấy >58% dương tính với Toxocara sp.” Thuốc mebendazol hay albendazole  làm con sán hay con lãi không hấp thu đường glucose được, mất dự trữ glycogen và mất nguồn năng lượng (ATP), do đó ký sinh trùng bị tê liệt và chết dần dần.( Khác với những thuốc chữa lãi khác như pyrantel và piperazine tác dụng trên  hệ thần kinh con ký sinh trùng (sán lãi) là các cơ của nó không đáp ứng với acetylcholine và do đó nó bị tê liệt nhanh chóng, bị đẩy ra khỏi ruột và còn sống lúc bị đi cầu ra ngoài). Albendazole thường được dùng với liều 400mg  (uống) hai lần/ ngày/trong 5 ngày. Đôi khi bịnh không khỏi hẳn, tái lại; và trong một công bố của Hàn Quốc (Min-Hye Kim) bịnh nhân bị các nốt trong phổi và các túi áp xe trong gan, đau bụng, ngứa dữ dội và mề đay, người ta dùng đến 3 đợt thuốc mới kết quả dứt bệnh sau hơn 2 tháng. Mebendazole, uống, thường được dùng với liều 100mg-200 x hai lần/ ngày/trong 5 ngày. Albendazole (Albenza) là thuốc chống giun sán phổ rộng, dùng để điều trị một số bệnh nhiễm trùng do giun như sán dây lợn (heo) và sán dây chó. Tác dụng phụ thường gặp của Albenza bao gồm: buồn nôn nôn đau dạ dày và bụng, đau đầu, chóng mặt, hoặc rụng tóc tạm thời. Hãy cho bác sĩ biết nếu có tác dụng phụ nghiêm trọng của Albendazole bao gồm: thay đổi thị giác, mắt vàng hoặc da, đau bụng hoặc đau bụng dữ dội Nước tiểu đậm, mệt mỏi khác thường, dễ bầm tím hoặc chảy máu, dấu hiệu nhiễm trùng (ví dụ: sốt, đau họng kéo dài), thay đổi lượng nước tiểu, nhức đầu dữ dội hoặc dai dẳng, co giật, mất tỉnh táo, hoặc cổ rất cứng. Liều lượng của Albendazol khác nhau, tùy thuộc loại nhiễm ký sinh trùng đang được điều trị. Albenza có thể tương tác với các loại thuốc khác bao gồm kháng sinh, cimetidin, dexamethasone, Praziquantel hoặc theophylline. Hãy cho bác sĩ của bạn tất cả các loại thuốc bạn đang dùng. Khi mang thai, Albenza chỉ nên được sử dụng khi được kê đơn. Thuốc có thể gây hại cho thai nhi. Phụ nữ trong độ tuổi sinh đẻ nên thử thai âm tính trước khi bắt đầu dùng thuốc này. Nếu bạn có thai, hãy nói với bác sĩ của bạn ngay lập tức. Nam giới và phụ nữ nên sử dụng 2 hình thức ngừa thai hiệu quả (ví dụ: bao cao su và thuốc tránh thai) trong khi dùng Albenza và trong 1 tháng sau khi ngừng thuốc. Người ta không biết Albenza truyền vào sữa mẹ hay không. Tham khảo ý kiến bác sĩ trước khi cho con bú. Chúc bịnh nhân may mắn. References: 1) Min Hye Kim A Case of Recurrent Toxocariasis Presenting With Urticaria https://www.ncbi.nlm.nih.gov/pmc/articles/PMC2946705/ 2) https://www.rxlist.com/albenza-side-effects-drug-center.htm 3) Nghiên cứu đặc điểm dịch tễ học phân tử giun đũa chó (Toxocara canis) và giun đũa mèo (Toxocara cati) nhằm đánh giá nguy cơ và nguồn truyền sang người https://www.most.gov.vn/vn/tin-tuc/14503/nghien-cuu-dac-diem-dich-te-hoc-phan-tu-giun-dua-cho-toxocara-canis-va-giun-dua-meo-toxocara-cati-nham-danh-gia-nguy-co-va-nguon-truyen-sang-nguoi.aspx 4) DPDx - Laboratory Identification of Parasites of Public Health Concern CDC https://www.cdc.gov/dpdx/toxocariasis/index.html 5) AAP Red Book, 2009 Bác sĩ Hồ Văn Hiền Ngày 19  tháng 3 năm 2019 Quý vị có thể xem và nghe lại các bài giải đáp trên mạng Internet ở địa chỉ voatiengviet.com Quý vị muốn được giải đáp các thắc mắc về những vấn đề y học thường thức, xin gọi đến số (202) 205-7890, hoặc E-mail đến địa chỉ .
 
Mỗi năm, hàng trăm phụ nữ Nga có thai đến Hoa Kỳ sinh con để con họ có thể được hưởng tất cả các đặc quyền mà quốc tịch Mỹ mang lại.
 
Thính giả Thuan Bui hỏi: Thưa Bác sĩ, Tôi có em trai 23 tuổi bị co giật cơ ở cổ, co giật không ý thức. Xin hỏi làm thế nào để trị bệnh này ạ. Cảm ơn Bác sĩ” Bác sĩ Hồ Văn Hiền trả lời: Theo nguyên tắc, chúng ta không thể có ý kiến về một trường hợp cá biệt. Về từ ngữ: fasciculation gốc chữ fascia, nghĩa là một chùm, một bó, ở đây, nói về một bó sợi cơ (fasciculus,a bundle of muscle fibers). Mỗi sợi cơ là một tế bào riêng rẻ, hình dài; có bắp cơ (muscle) chứa hàng ngàn sợi cơ, có bắp cơ chỉ có vài chục sợi cơ. Lúc có dòng điện từ các dây thần kinh kích thích, các sợi cơ sẽ co vào trong một thời gian rồi giãn ra. 1)Trong chứng giật cơ (fasciculation, muscle twitching), một nhóm sợi cơ co giật mà mình không kiểm soát được, chứ không phải toàn cơ bắp, ở những cơ bình thường mình cử động theo ý muốn. Những nơi thường xảy ra là mí mắt, cánh tay, cẳng chân , bàn chân. Đặc biệt là các cơ không bị liệt, hay bị yếu đi. Những nguyên nhân làm co giật vài nhóm sợi cơ lẻ tẻ thường gặp: -uống quá nhiều cà phê, có chứa cafein, -sau khi thể dục, thể thao nhọc nhằn, -thiếu calcium, magnesium trong máu, thiếu vitamin D, -cơ chung quanh mắt có thể giật vì chính trong mắt bị bệnh hay làm cho khó chịu. Một số thuốc (vd: Dramamine (dimenhydrinate); Sudafed (pseudoephedrine); Ritalin (methylphenidate); Benadryl dùng lâu dài; morphine lúc cai thuốc) có thể gây ra co giật bó sợi cơ. Thường bịnh tự khỏi sau vài ngày. Ngưng thuốc gây co giật sợi cơ. Nếu cần uống thêm calcium, magnesium (200-500mg/ngày, có thể làm phân lỏng).Thư giãn, massage các cơ, tập thở theo kiểu thiền. Nếu cần thiết, có thể cho dùng thuốc giảm viêm mạnh như prednisone, thuốc giãn cơ như Carisoprodol (Soma)(dùng ngắn hạn; làm bớt tỉnh táo, buồn ngủ; có thể gây nghiện) Nếu co giật chung quanh mắt cần bác sĩ khám xem mắt có vấn đề gì hay không và chữa trị nguyên nhân đó. 2) Benign fasciculation syndrome" (BFS), tạm dịch là “Hội chứng rung giật cơ lành tính". Trong trường hợp này, các cơ co giật xảy ra liên tục hay thường xuyên, đột ngột, mãn tính và ảnh hưởng đến phẩm chất cuộc sống, đi kèm theo với nhiều triệu chứng khác (nên mới gọi là hội chứng); và không tìm được nguyên nhân. Bác sĩ cần loại bỏ các lý do có thể gây co giật cơ trước khi quyết định đây là một bịnh "không rõ nguyên do" (essential). Các triệu chứng khác: -mệt mõi, -đau nhức cơ bắp, -lo âu, -yếu , mau mệt, co rút bắp thịt, -cảm thấy nghẹn họng (globus sensation, như có cục gì trong họng), -ngứa, -rung tay chân (tremor), -cơ cứng, co rút, -tăng các phản xạ gân xương (hyperreflexia). Nguyên nhân: Chưa hiểu rõ, có thể ở các sợi cơ, các tế bào thần kinh vận động hay nơi tiếp xúc giữa tế bào thần kinh và cơ. Định bịnh BFS: Căn cứ trên triệu chứng lâm sàng. Bác sĩ cần chắc chắn là các cơ không bị liệt hay yếu. Cần loại bỏ trường hợp thiếu Calci, Magnesium, vitamin D, liên hệ tới việc dùng thuốc. BFS khác với những trường hợp mà fasciculation có thể là thành phần một số bịnh làm bại liệt mà nguyên nhân nằm ở các tế bào thần kinh vận động của tủy sống (MND : motor neuron disease). -Như bịnh ALS (amyotrophic lateral sclerosis) cũng có fasciculation nhưng triệu chứng chính là các cơ bị teo và bắt đầu ở hai chân bị yếu, hay đi vấp ngã; bịnh nhân chỉ sống được vài năm. Trong cơ điện đồ (EMG) của ALS, có dấu hiệu dây thần kinh bị hư hại, có thể có fasciculation trong EMG (nhưng không đặc thù cho bịnh này), do đó dễ gây lẫn lộn giữa benign fasciculation syndrome (bịnh hiền, EMG bình thường) và ALS. -Một số bịnh hiếm hơn nguyên nhân do bịnh tự miễn nhiễm (Stiff Person Syndrome), hay bịnh di truyền (spinal muscle atrophy). -Bịnh nhiễm như bịnh dại. Chữa trị: - Giảm stress; chữa rối loạn lo âu (Vd: Sertralin [Zoloft]), amitriptyline [Elavil]) - Một số thuốc dùng chữa bịnh rung vô căn (essential tremor) : beta blocker, thuốc chống co giật (anticonvulsivant) cũng được dùng cho BFS. Propanolol là thuốc ngăn chặn tác dụng kích thích của loại neurotransmitters như adrenaline (chất tiết tuyến thượng thận). Phản ứng phụ: mệt mỏi, nghẹt mũi, tim đập chậm, không dùng cho người bị suyễn. Primidone, là một thuốc chống động kinh. Có thể làm buồn ngủ, lờ đờ, buồn nôn, mất thăng bằng. Gabapentin (Neurontin) chủ trị động kinh. -Tránh cà phê, thuốc lá. -Sống lành mạnh điều độ; tập thể thao, thể dục, thiền, đọc kinh, yoga; ngủ đủ giờ, tránh thức khuya, ăn ngủ bất thường, stress. Dự hậu: Đa số bịnh nhân thuyên giảm với thời gian. Chữa bịnh lo âu (anxiety) là yếu tố quan trọng nhất. Có khi bịnh nhân tự khỏi bịnh (spontaneous remission). Nếu bác sĩ không chắc chắn là bịnh BFS mà có thể có dấu hiệu của các bịnh tế bào thần kinh vận động (motor neuron disease) (như teo cơ, liệt, yếu cơ), bác sĩ sẽ cần theo dõi bịnh nhân theo định kỳ, bịnh nhân cần cho bs biết nếu thấy triệu chứng nặng thêm, hay có triệu chứng mới xuất hiện; với thời gian có thể sẽ kết luận dứt khoát hơn. Theo những tài liệu tôi tìm được, không thấy có liên hệ giữa chứng động kinh và đột quỵ với bịnh BFS. Những nhận xét trên đầy hoàn toàn tổng quát, trong mục đích thông tin. Bịnh nhân cần được bác sĩ khám và hướng dẫn. Chúc bịnh nhân may mắn. Bác sĩ Hồ Văn Hiền Ngày 3 tháng 2 năm 2019 Quý vị có thể xem và nghe lại các bài giải đáp trên mạng Internet ở địa chỉ voatiengviet.com Quý vị muốn được giải đáp các thắc mắc về những vấn đề y học thường thức, xin gọi đến số (202) 205-7890, hoặc E-mail đến địa chỉ .
 
Trong Thông điệp Liên bang đọc hôm 5/2, Tổng thống Hoa Kỳ Donald Trump kêu gọi ngăn chặn việc phá thai trong giai đoạn cuối của thai kỳ
 

Chứng lo âu ở thanh thiếu niên

Thính giả Bích Ngọc hỏi: Con 15 tuổi. Con hay bị hồi hộp, tim đập nhanh, cơ chân, ngực, bụng hay giật khoảng vài giây, đặc biệt khi con căng thẳng giải bài tập; đặc biệt khi nằm xuống cả ngực và bụng đều đập mạnh một tí rồi hết, lâu lâu thấy tức chỗ ở giữa trên ngực. Con bị đã 2 tuần hơn. Mấy ngày đầu con đi khám, bác sĩ nói con bị hệ thần kinh tự quản, cho thuốc uống 5 ngày về nhà. Uống thuốc đỡ, nhưng hết thuốc con không uống nữa, Con đang thi học kỳ nên tình trạng hay xảy ra lắm. Mong Bác sĩ cho con lời khuyên và cách điều trị. Cảm ơn Bác sĩ” Bác sĩ Hồ Văn Hiền trả lời:  Thính giả đặt câu hỏi mới 15 tuổi, rất tiếc bác sĩ không thể có ý kiến trực tiếp với cháu được về vấn đề sức khỏe. Cháu cần sự hướng dẫn và cho phép của phụ huynh khi tham khảo ý kiến chuyên môn. Tuổi 15 là lứa tuổi về thể chất người con gái (ít lắm là ở Mỹ) gần như đã trưởng thành và bắt đầu suy nghĩ về việc sống một mình sẽ như thế nào, lúc lên đại học sống tự lập, có phòng, căn hộ riêng. Lúc này, bắt đầu quan hệ với các thiếu niên khác, đôi khi quan hệ tính dục, thêm vào những ưu tư về ngoại hình (đa số lo mình quá mập, ăn kiêng) và về điểm số trong trường. Đó là chưa kể ảnh hưởng của các hormon trong chu kỳ kinh nguyệt, ví dụ người thiếu nữ sẽ có những triệu chứng như đau bụng, nhức đầu, sình bụng, mệt mỏi, tiêu chảy, bón, giảm trí nhớ, bực bội , nóng nảy, hồi hộp, những triệu chứng này giống và có thể được gán cho "hệ thần kinh tự dưỡng", tuy nguyên nhân chính là các hormon thay đổi trong 1-2 tuần trước khi có kinh. Người thiếu nữ có chiều hướng giảm bớt các xung đột với cha mẹ, có trách nhiệm hơn, và chịu khó tôn trọng kỷ luật khi một số quyền lợi đi đôi với việc người con tôn trọng một số luật lệ cha mẹ đặt ra. Do hoàn cảnh của cuộc sống tương đối độc lập hơn trước, người thiếu nữ có thể cảm thấy bị áp lực nhiều hơn, do đó lo âu nhiều hơn, và có thể cảm thấy cô đơn hơn nếu họ không có phụ huynh hay người lớn tuổi hơn đứng ra hướng dẫn hay làm chỗ dựa giúp mình giải quyết các mối lo đó. Các mối lo âu không được giải toả sẽ ngấm ngầm thể hiện bằng những triệu chứng cơ thể mà lúc đó cha mẹ sẽ nhờ đến bác sĩ giải quyết; bác sĩ sẽ có khuynh hướng biên toa để chữa các triệu chứng vật thể này mà không giải quyết nguồn gốc tâm lý, tinh thần, xã hội gắn liền với giai đoạn phát triển của bịnh nhân. Cho sau đây nên chúng ta sẽ bàn chi tiết hơn về khía cạnh này. Tôi chỉ xin giới hạn vào một số kiến thức tổng quát về chứng lo âu ơ thanh thiếu niên để chúng ta cùng học hỏi. Lo âu (anxiety) thường xảy ra ở thanh thiếu niên với các triệu chứng tâm thể (psychosomatic symptoms) của nó như "hồi hộp, tim đập nhanh, cơ chân, ngực, bụng hay giật khoảng vài giây","nằm xuống cả ngực và bụng đều đập mạnh một tí rồi hết, lâu lâu thấy tức chỗ ở giữa trên ngực". Lúc người bịnh bất an về tinh thần, tâm lý và sự bất an này biểu hiện qua những triệu chứng thể chất, chúng ta gọi hiện tượng này là "somatization". Hiện tượng này có thể biểu hiện qua những bất quân bình trong hệ thần kinh tự dưỡng (tk "tự quản" theo từ ngữ của thính giả; autonomic nervous system) như tay chân lạnh (vì các động mạch ngoại biên co lại), tim đập nhanh, mồ hôi toả ra, ói mửa, bón...nhưng rối loạn chính nằm ở tình trạng tâm lý xáo trộn của bịnh nhân (psychological distress). Đa số các cháu chỉ cần sự hướng dẫn của người lớn giúp các cháu hiểu thêm về nguồn gốc của mối lo, hướng dẫn các cháu khắc phục các nỗi lo âu (ví dụ giúp tổ chức công việc, làm bài, nhờ thầy dạy thêm), thông cảm và vỗ về các cháu, giúp các cháu trong quá trình phát triển thành một người lớn làm việc có phương pháp hơn, tự tin hơn với tầm nhìn xa hơn là một người trong tuổi thiếu niên. - Chứng lo âu là một phản ứng của cơ thể đứng trước một mối nguy cảm nhận hay có thật hay một biến cố quan trọng. Ví dụ chuẩn bị đi thi, kỳ thi quyết định cho thành quả năm học, khoá học, có thể đưa đến việc bị cha mẹ trừng phạt, ở lại lớp, hay bạn bè chế nhạo nếu thất bại. Lo âu là một hình thức báo động và giúp cho chúng ta ở tình trạng cảnh giác để ứng phó, giúp chúng ta tránh một sự đe doạ ví dụ tránh xe đụng nơi đông xe cộ, hay giúp chúng ta chuẩn bị để có thể thực hiện với thành quả tốt nhất. Đây là một tình huống thường gặp và không kéo dài. Trái lại, rối loạn lo âu được định bịnh lúc nó kéo dài trên 6 tháng, dai dẳng và cao độ, ảnh hưởng đến cuộc sống hàng ngày. Trên lý thuyết, chúng ta là "con người khôn ngoan' (homo sapiens) đã tiến hoá chừng 2 triệu năm, xa nguồn gốc thú vật. Nhưng trên thực tế, trên căn bản, hiện nay cách cơ thể chúng ta hiện nay phản ứng với lo âu lúc người trẻ đi thi tốt nghiệp trung học cũng không khác gì lắm với lúc một thiếu niên lúc lần đầu phải ra khỏi hang động đối phó với con chó sói lần đầu tiên mấy ngàn năm trước lúc loài người còn sơ khai. Lo âu tác dụng trên: - Tư tưởng: chúng ta nghĩ đến những đe dọa có thể xảy đến - Cơ thể: con ngươi nở lớn, nhìn thấy sáng hơn, hoặc mờ hơn, tim đập nhanh và mạnh hơn, các cơ bắp căng thẳng. Thở nhanh hay thở mạnh (sâu) có thể làm mình chóng mặt, lâng lâng, không bình tĩnh. Các động mạch ở phần xa của cơ thể như các ngón chân, bàn chân, bàn tay co lại, giành máu ưu tiên dồn về các cơ bắp lớn ở đùi để chạy khỏi nơi nguy hiểm. Những biến chuyển trên được thực hiện qua sự gia tăng tác động của hệ thần kinh giao cảm (sympathetic). Trong lúc đó, phần đối nghịch là hệ thần kinh đối giao cảm (parasympathetic) như tiêu hoá trong dạ dày và nhu động ruột bị ức chế lại, chậm lại. Bịnh nhân có thể tiêu hoá chậm lại, thấy khó tiêu, xót ruột vì dịch acid tích tụ kéo dài trong dạ dày. - Hành vi, thái độ: chống trả, chạy trốn hay "chết đứng" Phản ứng đối với stress này gọi là "fight or flight/freeze response", có thể dịch thành "đánh, tránh quýnh". Ví dụ, một thanh niên có thể gây lộn, làm dữ với bố mẹ ép buộc mình phải thi vào y khoa lúc mình không muốn hay cảm thấy không đủ khả năng (fight/chống trả). Một thanh niên khác có thể tránh buổi khiêu vũ vì lo mình vụng về , có thể bị chê cười (tránh/flight). Hay 'lặng người", "chết đứng” lúc bị thầy giáo truy bài (freeze). Các biện pháp đối phó với sự sợ hãi: 1) Nhận diện các mối sợ của mình, gây lo âu, có thể lập một danh sách Mỗi mối sợ có thể chia ra nhiều mức khác nhau ("thang sợ"/ “fear ladder) và đối diện (phơi nhiễm/ exposure với mối gây sợ): ví dụ sợ phải nói trước công chúng có thể làm quen từ từ: nói trước người bạn>nói trước thầy giáo>nói trước thầy giáo và cả lớp. Tập dần dần từ dễ đến khó để từng bước đạt đến mục đích. Cũng như lái xe: ngồi đề máy trong sân với mẹ>tập de xe, lái xe trong khu phố> lái ra đường lớn hơn lúc vắng cuối tuần> lái ngày thường>ra xa lộ...) 2) Suy nghĩ đúng: Kiểm soát tư tưởng của mình, hướng về phía xây dựng hơn: Ví dụ trước kỳ thi, thay vì nghĩ đến "thi rớt, cha mẹ rầy la, bạn bè chê cười, suốt đời phải đi rửa chén, không nghề ngỗng gì cả", làm mình cáu kỉnh, đốp chát với cha mẹ, nhức đầu, đau bụng, mất ngủ. Nên lý luận với mình như thế này " Mình đang lo về cái vụ thi cử này đây, đúng như vậy; nhưng như vậy có nghĩa đây là một việc quan trọng, và mình nhất quyết làm tốt. Mình học bài rất kỹ rồi, và ngày mai mình sẽ làm hết khả năng. Mình sẽ không để cho sự lo âu cản đường đi đến thành công.” 3) Những biện pháp có thể thực hiện được gồm: - Tập thở đều đặn, chậm - Tham gia các lớp dạy chánh niệm (mindfulness), thiền định. Phương pháp chánh niệm quen thuộc với người Việt giúp ý thức về giây phút hiện tại là một phương tiện hữu hiệu giải toả tình trạng lo âu. Phương pháp này (mindfulness) được nhắc đến và thực hành nhiều ở Mỹ (“experiencing the present moment”). - Hiển thị (visualization), tập thở đều đặn, tưởng tượng như mình ngồi trước một bờ biển, cảnh núi non, tập thở đều đặn và tập trung vào việc thở, hít qua mũi và thở ra miệng từ từ. Cuối bài viết, tôi có tạm dịch bài script (kịch bản, trong trang AnxietyCanada) hướng dẫn học trò hiển thị phòng thi để giảm bớt lo âu trước khi đi thi, hay kiểm tra. Một người lớn đọc script để hướng dẫn người sắp đi thi trong vài phút tĩnh tâm.(1) Ngoài ra, nên để ý về vệ sinh cuộc sống: 1) Ngủ đủ giờ, tránh thức khuya quá đáng, tránh ồn ào, tránh ô nhiễm ánh sáng nơi ngủ (các đèn điện tử, TV chạy suốt đêm) 2) Tránh hút thuốc, các chất kích thích, soda (nước ngọt có cafein) 3) Vận động cơ thể thường xuyên (exercise) 4) Ăn uống lành mạnh, không quá nhiều đường, nhiều thức ăn chế biến, ăn rau quả, trái cây đầy đủ. 5) Đối với giới trẻ hiện nay, internet, nhất là các trang mạng xã hội như Facebook, Tweeter là một nguyên nhân quan trọng gây stress và lo âu, do áp lực của nó trên tâm hồn còn non trẻ, dễ bị ảnh hưởng của lứa tuổi thanh thiếu niên. Nên điều độ, giảm giờ trên mạng xã hội, và dành nhiều giờ hơn cho sinh hoạt với gia đình, thể thao thể dục. Đối với thanh thiếu niên, vai trò hỗ trợ và hướng dẫn của cha mẹ, phụ huynh, thầy cô, các cố vấn trong trường học các vị hướng dẫn tôn giáo, rất cần thiết để giúp các em hiểu hơn về những khó khăn, thách thức làm mình lo âu, gây nên những biểu hiện trên cơ thể như nhức đầu , đau bụng , mệt mỏi. Những trường hợp kéo dài, ảnh hưởng đến nếp sống, học hành của các em cần các chuyên gia về tâm lý, bác sĩ tâm thần can thiệp. Nếu rất cần, bác sĩ mới dùng đến thuốc men để chữa bịnh (thuốc an thần, thuốc chống trầm cảm) và theo dõi cẩn thận. Thuốc trị bịnh tâm thần (psychotropic drugs) cần được đắn đo kỹ lưỡng trước khi dùng cho các em còn non nớt, trong quá trình phát triển cả thể chất lẫn tinh thần. Đáng chú ý hơn hết là một số thuốc chống trầm cảm cho thanh thiếu niên có tác dụng gây tự tử nhiều hơn, do đó, bác sĩ cần theo dõi kỷ và bịnh nhân phải uống thuốc hay ngưng thuốc theo đúng hướng dẫn của bác sĩ chuyên môn. Tập thở/ Hiển thị đối phó với lo âu trước khi thi test (Test Anxiety Visualization) (Gợi ý cho người đọc to kịch bản cho thanh thiếu niên: • Khi đọc kịch bản, hãy nói chậm, giọng bình tĩnh và êm dịu. • Tạm dừng sau mỗi hướng dẫn để có đủ thời gian thi hành. • Đừng để ứng viên quá căng thẳng, có cảm thấy căng trong cơ bắp nhưng không tới mức đau. Ứng viên nên căng từng cơ bắp khoảng 5-8 giây trước khi giãn cơ bắp.) Kịch bản (script): 1. Bạn (con, em) nhắm mắt nhẹ nhàng và thoải mái. Đừng đãng trí trong mấy phút sau đây. Hãy dùng khoảng thời gian này để tập trung và thư giãn. Để ý một số các khu vực chính trong cơ thể của bạn, những nơi căng thẳng gia tăng. Scan cơ thể của bạn bây giờ để tìm những những vùng căng thẳng. Cứ mỗi vùng, hãy tưởng tượng hướng hơi thở của bạn đến khu vực đó. Vai, tay, lưng, cổ và hàm của bạn. Hãy tưởng tượng như hít thư giãn vào ... và thở hết sự căng thẳng ra ngoài. Hít một cảm giác thư giãn và thở ra tất cả sự căng thẳng. Cảm thấy cơ bắp của bạn thư giãn với mỗi hơi thở. 2. Bắt đầu thư giãn cơ thể. Hít một hơi thật sâu vào, giữ nó nhẹ nhàng ... và thả nó ra Hít vào một lần nữa ... tạm dừng ... và thở hết ra Thở vào...tạm dừng ... vào... ra ...vào ... ra... 3 Giữ nhịp thở tự nhiên. Với mỗi hơi thở, bạn càng trở nên thoải mái hơn. Nếu còn vướng suy nghĩ lo lắng nào, hãy mặc kệ để nó, sẽ tính sau. (Tạm ngừng.) 4 Bây giờ bạn đang cảm thấy bình tĩnh và thư giãn. Toàn bộ cơ thể bạn cảm thấy thư giãn và nặng nề. 5 Bây giờ bắt đầu tưởng tượng ngồi xuống để viết một bài kiểm tra. Bạn cảm thấy rất có động lực để học cho kỳ thi này và làm tốt. Hoàn toàn tưởng tượng cảm giác này, và cho phép mình trải nghiệm nó hoàn toàn. Cảm thấy mình có nhiều cảm hứng.. (Tạm ngừng.) 6 Bạn mong muốn làm bài kiểm tra này và làm tốt. 7. Bây giờ hãy tưởng tượng mình vào phòng thi. Bạn đang cảm thấy một chút phấn khích làm bài kiểm tra và chia sẻ những gì bạn biết với giáo viên của bạn; đồng thời, bạn cảm thấy tự tin. Bạn tưởng tượng đi bình tĩnh vào lớp và ngồi xuống. Khi bạn bước vào lớp, bạn nói với chính mình, khi tôi đến ghế của mình, mình sẽ chỉ tập trung vào bài kiểm tra dù cho mình cảm thấy lo lắng. 8. Bạn thấy mình ngồi trên ghế. Bạn nhận thấy những gì diễn ra xung quanh bạn. Bạn nghe các sinh viên khác lao xao về chỗ ngồi. Bạn mỉm cười với họ. Bạn sờ thấy mặt bàn gỗ cứng. Bạn cảm thấy cây bút cầm trong tay. Bạn thấy giáo viên phát bài kiểm tra. Bạn cảm thấy một chút lo lắng cũ tăng lên. Bạn nói với chính mình: Nó chỉ là nỗi lo lắng của mình thôi; mình có thể đối phó với nó. Nó sẽ không ngăn mình làm bài kiểm tra này." 9. Bây giờ, bài kiểm tra đang ở trước mặt bạn trên bàn. Hãy tưởng tượng scan qua toàn bộ bài kiểm tra một cách bình tĩnh và tự tin. Bạn khám phá ra rằng bạn đã biết ít nhiều về mỗi câu trả lời và bạn cảm thấy đã sẳn sàng. Bạn cảm thấy thư thái, vui vẻ. Bạn bắt đầu tổ chức thời gian. Bạn tự nhủ, tôi sẽ tiếp tục suy nghĩ một cách bình tĩnh và không để nỗi lo lắng của mình xâm chiếm. Mình đã làm nhiều bài kiểm tra trước đây và không có lý do gì mình không làm được ngày hôm nay. Đây là cơ hội để mình chứng tỏ những gì mình biết. 10. Hít một hơi thật sâu, thật chậm và thở ra hết. Tốt. Bạn cảm thấy cơ thể thư giãn và cho phép tâm trí của bạn trở nên bình tĩnh. Trong trạng thái bình tĩnh này, bạn có thể tập trung vào bài kiểm tra và nhìn thấy mọi thứ rõ ràng. Bây giờ bạn bắt đầu viết câu trả lời cho từng câu hỏi. Bạn có thể nhớ những gì bạn đã học. Các câu trả lời và ý tưởng đang đổ ra dễ dàng lên các trang giấy. Một số câu hỏi rất dễ và đơn giản, và bạn trả lời chúng nhanh chóng. Một số câu hỏi suy nghĩ nhiều hơn. Bạn biết sẽ có những câu khó hơn này, và bạn đã chuẩn bị. Bạn cố gắng hết sức và tìm cách thể hiện những gì bạn biết. 11. Bây giờ bạn đã hoàn thành và bạn làm bài kiểm tra của bạn. Bạn cảm thấy vui và tự hào. Bạn nói với chính mình " Tôi đã làm xong việc mà không bị khớp. Tôi đã không để nỗi lo lắng của mình xâm chiếm". Tận hưởng cảm giác thành công. (Tạm ngừng.) 12. Bây giờ bạn đã hoàn thành hiển thị việc chuẩn bị kiểm tra, bạn cảm thấy bạn được chuẩn bị tốt hơn cho quá trình làm bài kiểm tra. Bạn tự tin rằng bạn sẽ có thể kiểm soát sự lo lắng của bạn và tập trung vào bài kiểm tra. Bạn bình tĩnh, tự tin, và giành quyền chủ động. 13 .Từ từ bắt đầu trở về phòng ... trả lại nhận thức của bạn cho thời gian hiện tại. Ngọ nguậy ngón tay của bạn. Ngọ nguậy ngón chân của bạn. Cảm thấy bàn tay và cánh tay của bạn thức dậy. Quay của bạn đầu từ bên này sang bên kia ... cảm thấy cơ thể bạn thức dậy. 14. Khi bạn cảm thấy tỉnh táo, linh hoạt, bạn có thể trở về các hoạt động thông thường của mình, cảm thấy tràn đầy năng lượng, động lực và tự tin. Bác sĩ Hồ Văn Hiền Ngày 8 tháng 2 năm 2019 Reference: https://youth.anxietycanada.com/sites/default/files/scripts/Test%20Anxiety%20Visualization%20Script.pdf   Quý vị có thể xem và nghe lại các bài giải đáp trên mạng Internet ở địa chỉ voatiengviet.com Quý vị muốn được giải đáp các thắc mắc về những vấn đề y học thường thức, xin gọi đến số (202) 205-7890, hoặc E-mail đến địa chỉ .
 
Thính giả Hong A hỏi: Thưa Bác sĩ,  Tôi thường bị rát lưỡi từ 4 năm nay. Tôi ăn uống thì bình thường không rát; không ăn uống thì rát. Ăn cay hay mặn cũng không rát mà có cảm giác ngon miệng. Vậy tôi xin hỏi Bác sĩ nguyên nhân nào, hay thiếu chất gì. Cảm ơn Bác sĩ” Bác sĩ Hồ Văn Hiền trả lời:  Có nhiều bịnh có thể gây rát, đau lưỡi, những nguyên nhân dễ phát hiện nhất như loét lưỡi, bịnh nấm ở lưỡi, ung thư ở lưỡi được cần được bác sĩ nghĩ tới và thu thập đủ dữ kiện (như hỏi bịnh sử, ví dụ người hút thuốc lá hay không; khám thấy có tổn thương gì trên niêm mạc miệng hay không, làm sinh thiết/biopsy nếu khả nghi) để xác nhận hay loại bỏ các chẩn đoán này. Tất nhiên, tôi không thể định bịnh hay tư vấn cho một bịnh nhân cá biệt được, và cũng như mọi khi, lúc quý vị thính giả đưa ra một trường hợp như bịnh này, chúng ta chỉ có thể xem đây như là một cơ hội để chúng ta học hỏi thêm về một số tin tức trong y văn hiện nay, có thể có mà cũng có thể không liên hệ trực tiếp đến trường hợp chúng ta đang bàn. Sau đây tôi xin bàn về Hội chứng Rát Miệng (Burning Mouth Syndrome, BMS), hay còn gọi là Bịnh “đau lưỡi” (glossodynia, glossa=lưỡi, odyna=đau). Đại đa số bịnh nhân là nữ (tỷ lệ 7/1 cho đến 31/1), đa số ở người phụ nữ đã tắt kinh, và có những triệu chứng khác của thời sau khi nghỉ kinh (postmenopausal). Phụ nữ gốc Á châu cũng như người Da Đỏ dễ mắc chứng này hơn. Triệu chứng: 1) Vị trí: đau ở 2 bên lưỡi; ít gặp hơn: ở vòm miệng, môi hoặc nướu răng hàm dưới 2) Đau mạn tính (chronic pain). 3) Đau theo lối rát, như bị phỏng (burning pain), hay tê tê, thấy rần như kiến bò (tingling). Nhiều khi chỉ mơ hồ là khó chịu, ê đau, không đau rõ rệt. 4) Triệu chứng đi kèm: cảm thấy khô miệng; khẩu vị, vị giác có thể thay đổi (dysgeusia); vd đắng lưỡi, vị kim loại (tanh/metallic taste); nhạy cảm quá đáng với những vị khác nhau; đau lưng mạn tính; ruột quá nhạy cảm dễ đau bụng đi cầu xong lại khỏi (irritable bowel syndrome, IBS); bụng sình hơi; cảm giác nuốt nghẹn (globus pharyngeus); đau bụng lúc có kinh (dysmenorrhea); cảm giác lo lắng (anxiety); ăn không ngon; trầm cảm (depression); rối loạn cá tính (personality disorders). 5) Thời điểm: Ba loại đau: Loại 1: sáng dậy không đau, đau xuất hiện, xong từ từ tăng dần, đau nhất buổi tối lúc giờ đi ngủ nên rất khó ngủ, làm mệt mỏi, lo lắng (nguyên nhân thường gặp là bịnh tiểu đường) Loại 2: đau lúc mới thức dậy và đau suốt ngày (thường gặp nhất) (thường do chứng lo âu) Loại 3: không theo thứ tự nhất định; khi đau khi không, nên để ý tới dị ứng thức ăn. 6) Những tình huống làm bịnh nặng hơn hoặc giảm bớt: a) Thần kinh căng thẳng, mệt, nói nhiều, thức ăn cay, nhiều gia vị. b) Ít đau hơn lúc ăn uống. Nên để ý, trong bịnh đau miệng do lở miệng, đau răng, đau hàm, người bịnh càng đau hơn lúc ăn uống; nếu đau rát miệng mà ăn uống lại bớt đau, thì đây là một dấu chỉ đặc biệt của “hội chứng rát miệng”. Có thể bớt đau nhờ uống thuốc hoặc thoa thuốc tê vào chỗ đau. 7) Cường độ đau: cở trên trung bình (5-8/10), tương tự như đau răng. 8) Có thể làm mất ngủ, nhưng có thể không ảnh hưởng giấc ngủ. 9) Bịnh nhân từng được nhiều bác sĩ khám và chữa nhưng không có kết quả rõ rệt. Nguyên nhân: Theo định nghĩa của BMS, chúng ta chưa hiểu rõ nguyên nhân chứng này, và chỉ định bịnh BMS sau khi loại bỏ những nguyên nhân có cơ sở thể chất cụ thể hơn (như loét do ung thư, đau răng, đau khớp thái dương-hàm dưới (temporomandibular joint, TMJ), viêm dây thần kinh do thiếu vitamin B, folic acid, Fe, zinc; do siêu vi [herpes virus]); suy cơ năng tuyến giáp (hypothyroidism); bịnh tiểu đường (diabetes type 2); dị ứng với thuốc, thức ăn, kim loại trong răng; thuốc hạ áp huyết loại ACE inhibitor (vd lisinopril); bịnh do răng giả (denture) gây khó chịu . Những giả thuyết giải thích BMS: -Những khảo cứu gần đây cho rằng BMS do rối loạn cơ năng các dây thần kinh sọ V, VII, IX phụ trách về vị giác ( cranial nerves V, VII, IX)(neuropathic pain) - Người mãn kinh thiếu hormone estrogen và progesterone - Hiện tượng tự miễn nhiễm (autoimmune), do cơ thể sinh ra những kháng thể chống lại chính mình ( những kháng thể chống nhân (ANA) hay yếu tố phong thấp (rheumatoid factor/RF) có thể hiện diện trong máu trên 50% bịnh nhân; bịnh khô miệng do nước miếng bất bình thường) - Bịnh trầm cảm, bịnh lo lắng có thể kèm theo. Bịnh BMS có thể là một biểu hiện của bịnh thần kinh tâm thể (psychosomatic manifestation, bịnh tâm lý biểu hiện bằng triệu chứng vật thể), chứng sợ ung thư, sợ bịnh phong tình, chứng "bịnh tưởng" (hypochondriasis). - Một số bịnh nhân có thể có thói quen lấy lưỡi chạm vào răng, hay đẩy lên vòm miệng làm gây ra những chấn thương li ti cho lưỡi. - Bịnh Parkinson có thể làm dây thần kinh nhạy với sự đau đớn hơn. - Liên hệ tới một giai đoạn khó khăn, bị stress trong đời, thường là 3-12 năm sau khi tắt kinh. Chữa trị: 1) Loại bỏ các khả năng bịnh đã kể ở trên gây ra triệu chứng khô, rát, đau lưỡi miệng. 2) Nếu không có bịnh đi đôi: bác sĩ cần giải thích cho bịnh nhân yên tâm; giảm lo lắng bịnh nhân, nhất là lo ung thư (cancerophobia), lo bịnh tính dục (sexually transmitted diseases); 3) Nếu cần thuốc an thần (benzodiazepine, vd clonazepam [Klonopin], chlordiazepoxide [Librium]), thuốc chống trầm cảm ba vòng ( tricyclic antidepressant), thuốc chữa trị co giật (anticonvulsivant, vd gabapentin [Neurontin], pregabalin (Lyrica) dùng với mục đích giảm cơn đau do dây thần kinh quá nhạy cảm gây ra.) 4) Capsaicin là một chất lấy từ ớt, có tác dụng làm giảm đau. Có những nghiên cứu cho thấy chất này có thể có ích trong chừng 1/3 các trường hợp. Tuy nhiên ở Mỹ không có thuốc chứa capsaicin để thoa trong miệng. Có nghiên cứu dùng viên capsaicin 0.25% trên 25 người bịnh so sánh với 25 người dùng placebo. Nhóm dùng capsaicin có giảm đau đáng kể nhưng lại bị biến chứng đau dạ dày vì thuốc (Petruzzi). Các khảo cứu còn giới hạn về châm cứu cũng cho thấy có ít kết quả. 5) Tránh thuốc súc miệng có chứa alcohol, kem đánh răng có chứa sodium lauryl sulfate tránh uống rượu, nước pH thấp (acid) như cà phê, nước cam, chanh. 6) Uống những ngụm nước thường xuyên cho miệng khỏi khô, mút nước đá, nhai kẹo cao su không có đường. 7) Các chất khoáng, vitamin: Vitamin B, Zinc, Folate, sắt (iron). Alpha-lipoic acid (ALA) là một chất kháng oxy-hóa (antioxidant) được cơ thể chúng ta sản xuất; trong các thức ăn như gan, tim, broccoli có nhiều ALA. ALA được dùng ở châu Âu nhiều hơn ở Mỹ, như là một chất bổ sung (ALA supplement) trong các trường hợp tiểu đường type 2 (người lớn tuổi), viêm thần kinh do tiểu đường, bịnh HIV và giúp sụt cân cho người mập. Alpha-lipoic acid (ALA) được bán trên thị trường dưới dạng "bổ túc dinh dưỡng"(600mg/ngày trong một tháng) có thể có kết quả giới hạn, tuy nhiên chưa được xác nhận dứt khoát. 8) Có thể cần tâm lý trị liệu (psychotherapy), hành vi trị liệu pháp (biobehavioral techniques). 9) Nên đi khám nha sĩ. Nếu một nguyên nhân vật thể giải thích được chứng đau miệng (ví dụ đi khám răng và thấy răng gần đó hay khớp TMJ gần đó có thể giải thích được cơn đau ở lưỡi) thì những chứng trầm cảm lo lắng có thể được giải toả sau khi giải quyết được bịnh đau miệng/lưỡi. Trong 2/3 trường hợp, bịnh BMS tự nhiên từ từ thuyên giảm, các cơn đau thưa thớt đi và bịnh nhân cuối cùng hết đau. Có thể kéo dài hằng tháng, hằng năm, nhiều năm. Chúc bịnh nhân may mắn. Reference: 1) Grushka M., Burning Mouth Syndrome. Am Fam Physician. 2002 Feb 15;65(4):615-621. http://www.aafp.org/afp/2002/0215/p615.html 2) Wikipedia.org Burning Mouth Syndrome 3) Danny Cheung and Nigel Trudgill  Managing a patient with burning mouth syndrome https://www.ncbi.nlm.nih.gov/pmc/articles/PMC5369598/ 4) Petruzzi M, Lauritano D, De Benedittis M, Baldoni M, Serpico R. Systemic capsaicin for burning mouth syndrome: short-term results of a pilot study. https://www.ncbi.nlm.nih.gov/pubmed/14720197 5)Burning mouth syndrome: a systematic review of treatments. https://www.ncbi.nlm.nih.gov/pubmed/28247977 6)Alpha-Lipoic Acid Useful in Treating Burning Mouth Syndrome https://www.lexi.com/individuals/dentistry/newsletters.jsp?id=june_08 7) https://www.webmd.com/diet/alpha-lipoic-acid-ala#1 Bác sĩ Hồ Văn Hiền Ngày 16 tháng 2 năm 2019 Quý vị có thể xem và nghe lại các bài giải đáp trên mạng Internet ở địa chỉ voatiengviet.com Quý vị muốn được giải đáp các thắc mắc về những vấn đề y học thường thức, xin gọi đến số (202) 205-7890, hoặc E-mail đến địa chỉ .
 

Dịch sởi lan rộng khắp Việt Nam

Truyền thông Việt Nam hôm 19/2 loan tin dịch bệnh sởi hiện lan rộng trên 43 tỉnh, thành phố, đặc biệt tập trung nhiều tại một số tỉnh, thành phố khu vực phía Nam, với 90 phần trăm số ca mắc sởi đều chưa được tiêm phòng hoặc không rõ về tình trạng tiêm phòng.
 

Vòng đeo tay thông minh kiểm tra sức khỏe

Các nhà khoa học đang giúp bệnh nhân chống lại bệnh cúm, tiểu đường và các bệnh khác với sự trợ giúp của đồng hồ thông minh theo dõi tình trạng hóa học cơ thể về lượng đường trong máu, mồ hôi và các dữ liệu khác. Các nhà nghiên cứu tại Đại học Texas ở Dallas cho biết nó cũng có thể giúp các cặp vợ chồng mang thai bằng cách theo dõi tình trạng căng thẳng.
 

Thuốc chữa viêm gan C (Hepatitis C)

Thính giả Lưu Bình hỏi: Thưa Bác sĩ,  Tôi là Bình 64 tuổi, 1999 bị tai nạn giao thông phải mổ sọ 3 lần. . . Sau đó vài năm tôi hiến máu tình nguyện và phát hiện bị nhiễm HCV, Bác sĩ có thể cho tôi biết tên thuốc đặc trị của nó. Ở Việt Nam có thuốc này và tôi được biết công ty sản xuất thuốc này chỉ cung cấp cho các bác sĩ nội nhiễm gan mật! Mong được Bác sĩ giúp đỡ. Chân thành cảm ơn Bác sĩ​. Cảm ơn Bác sĩ” Bác sĩ Hồ Văn Hiền trả lời:  Viêm gan có thể do nhiều nguyên nhân. Nhiễm vi rút là một trong những nguyên nhân thường gặp. Viêm gan C được khám phá sau viêm gan A (1970s) và B (Baruch Bloomberg 1967, HBV vaccine 1969)). Siêu vi gan C chỉ mới được tìm ra vào năm 1989; trước đó người ta chỉ biết viêm gan A và B; nếu không thể nhận diện viêm gan nào đó thì người ta gọi là "viêm gan không phải A hay B" (non A non B hepatitis).Sau đó còn bịnh viêm gan D (delta agent, chỉ đi kèm theo viêm gan B), viêm gan E (1990) và viêm gan G (1995). Bịnh Viêm gan C do virus viêm gan C gây ra (HCV). HCV là một sợi RNA đơn (single stranded RNA). Trước đây, người bị viêm gan sau khi truyền máu, hết 90% là do HCV gây ra. Gần đây, với khả năng sàng lọc (screening, 1992) máu trước khi truyền cho người nhận. Các biện pháp ngăn chặn HCV chỉ mới được CDC đề ra từ năm 1998. Nhiễm HCV sau khi truyền máu rất hiếm ở Mỹ (chừng 2 triệu bịch máu mới có 1 cas HCV). Tuy nhiên, đại đa số người bị viêm gan C hiện nay là do dùng thuốc ma tuý chích (intravenous drug use), hít cocain qua mũi, xăm mình và ở mức ít hơn, qua đường tính dục vì làm tình mà không dùng biện pháp an toàn để che chở (sexual transmission [by unprotected sex]). Trong số người bị nhiễm HCV cấp tính, chỉ một số ít có triệu chứng; như buồn nôn, vàng da (jaundice), nước tiểu vàng khè, đau bụng bên phải, phía trên (vùng gan). Triệu chứng kéo dài chừng 2 tuần đến 4 tháng. 86% -50% sẽ tiếp tục trở thành viêm gan C mãn tính (kinh niên)( chronic hepatitis C). Tuỳ theo nhóm người: trẻ em có khả năng dứt HCV chừng 50%; người có triệu chứng có khả năng tự thanh toán HCV (cure) cao hơn người không triệu chứng (asymptomatic cases). Sau 20 năm, 20% bịnh nhân sẽ bị xơ gan, chai gan (liver fibrosis, cirrhosis), nhất là những bịnh nhân phái nam, uống rượu nhiều và mắc bịnh sau 40 tuổi. Lúc bịnh mới bắt đầu, trong thời kỳ cấp tính, bác sĩ định bịnh HCV bằng cách phát hiện RNA (ribonucleic acid) của HCV trong máu bịnh nhân (có thể phát hiện được vài ngày cho đến vài tuần sau khi bị nhiễm với phương pháp PCR [Polymerase Chain Reaction]), sau đó nếu phát hiện thêm được kháng thể (antibodies) chống HCV, thì xác định bịnh. Theo hướng dẫn mới nhất của Canada (Canadian Association for the Study of the Liver, 2018) xét nghiệm kháng thể chống HCV là xét nghiệm chẩn đoán được lựa chọn để sàng lọc ban đầu (initial screening). Nếu dương tính, xét nghiệm phản ứng chuỗi HCV RNA polymerase xác nhận là cần thiết để xác nhận nhiễm trùng mãn tính. Ở những người mà siêu vi từng bị thanh toán tự phát (spontaneous clearance) hoặc do điều trị trước đó và những người nghi ngờ nhiễm trùng cấp tính (acute infection), HCV RNA là xét nghiệm sàng lọc được lựa chọn vì xét nghiệm kháng thể kháng HCV vẫn dương tính suốt đời một khi đã nhiễm virus, ngay cả sau khi thanh toán HCV tự phát hoặc do điều trị. Những nhóm tại Canada sau đây nên screen thử HCV: 1) Những người sinh giữa 1945-1975 2) Các yếu tố cơ nguy: -Bệnh sử có sử dụng ma túy hiện tại hoặc trong quá khứ (thậm chí một lần) -Nhận dịch vụ chăm sóc sức khỏe hoặc dịch vụ cá nhân ở những nơi thiếu các biện pháp phòng ngừa và kiểm soát nhiễm trùng -Nhận được truyền máu, các sản phẩm máu hoặc cấy ghép nội tạng trước năm 1992 tại Canada -Trong quá khứ hoặc hiện tại bị giam giữ -Sinh ra hoặc cư trú tại khu vực có tỷ lệ mắc viêm gan C> 3%, như: Trung, Đông và Nam Á; Australasia và Châu Đại Dương (Oceania); Đông Âu; Tiểu vùng Châu Phi dưới sa mạc Sahara; Bắc Phi hoặc Trung Đông -Con của người mẹ bị nhiễm HCV -Bệnh sử quan hệ tình dục hoặc chia sẻ vật phẩm chăm sóc cá nhân với người bị nhiễm HCV -Nhiễm HIV, đặc biệt là nam giới có quan hệ tình dục với nam giới -Điều trị chạy thận nhân tạo mãn tính -Mức alanine aminotransferase trong máu tăng cao quá mức bình thường Chữa trị: Vì một số đáng kể bịnh nhân HCV cấp tính sẽ tự mình khắc phục được bịnh, bác sĩ điều trị chỉ chữa bằng thuốc nếu thấy cần, sau khi quan sát một thời gian (ví dụ 12 tuần), xét tình trạng sức khỏe người bịnh, và xét các yếu tố cơ nguy bịnh trở thành mãn tính. Trước đây (1991-2014) thuốc chính là interferon hay pegylated interferon (chích) (peginterferon , “Pegintron”) trong nhiều tuần. Interferon kích thích các tế bào phòng thủ sản xuất kháng thể nhiều hơn. Thuốc có thể gây những biến chứng quan trọng (mắt, máu, phổi). Chừng 50% bịnh nhân được chữa khỏi HCV. Mấy năm gần đây (sau 2014) một số thuốc uống, ( “DAA”=Direct Acting Antivirals) được FDA chấp nhận dùng chữa bịnh viêm gan C, nhưng rất đắt tiền : ví dụ : Sovaldi (sofosbuvir, FDA approved 12-2013, Gilead Sciences; giá 1000 đô la một viên và tốn 84.000 đô la cho 12 tuần), Harvoni (sofosbuvir-ledipasvir); giá 94,500 dollars cho 12 tuần (thuốc ức chế men RNA polymerase cần cho virus sinh tồn, approved for a HCV types 1,4,5,6). Ở Mỹ giá mà các cơ quan bảo hiểm hay chính phủ Medicare, Medicaid) phải trả cho thuốc có thể thấp rất nhiều hơn giá chính thức này (wholesale acquisition price), tùy theo các thương lượng giữa nhà thuốc và các cơ quan đài thọ cho chi phí. Tuy nhiên giá sản xuất cho nhà thuốc (production cost) lại còn thấp hơn rất nhiều. Để sản xuất những viên thuốc sofosbuvir dùng trong 12 tuần lễ này có thể nhà sản xuất chỉ tốn kém chừng trên dưới 100 đô la Mỹ. Giá gần 100.000 đô la niêm yết cho những viên thuốc này được nhà sản xuất giải thích là họ phải tính vào đó những chi phí về nghiên cứu và phát triển để tìm ra những thứ thuốc như vậy. Năm 2018 ở Việt Nam tại Hải Phòng có một chương trình khảo cứu trên lâm sàng về chữa trị viêm gan C. Công trình khảo cứu này dùng những thuốc sau đây để chữa bệnh viêm gan C bệnh viêm gan được bảo trợ bởi Viện y tế quốc gia của Pháp và quốc gia về khảo cứu Bệnh HIV và bệnh gan của Pháp.(French National Institute for Health and Medical Research-French National Agency for Research on AIDS and Viral Hepatitis (Inserm-ANRS) Drug: Sofosbuvir 400 mg and Daclatasvir 60 mg Drug: Sofosbuvir 400 mg and Daclatasvir 90 mg Drug: Ribavirin Drug: Sofosbuvir and Daclatasvir for 24 weeks (https://clinicaltrials.gov/ct2/show/NCT03537196) Nói chung sau khi nhiễm virus gan C, trong sáu tháng đầu, chừng 25 % (10-50%) bệnh nhân có khả năng tự hồi phục. Sau đó điều trị bệnh viêm gan C do các bác sĩ chuyên môn về bệnh nhiễm hay bệnh gan phụ trách. Những cơ quan hướng dẫn chuyên môn về bịnh gan ( như European Association for the Study of the Liver, the American Association for the Study of Liver Disease and Infectious Disease Society of America, Canadian Association for the Study of the Liver) đã phát triển những phác đồ điều trị khá phức tạp tùy theo hoàn cảnh y tế và dân số của mỗi vùng để các bác sĩ chuyên môn áp dụng cho những tình huống khác nhau về đặc điểm di truyền của Virus (genotype of HCV), về các biến chứng đã xảy ra như xơ gan (fibrosis, cirrhosis ), cơ năng gan của người bệnh. Nói chung thuốc được dùng trong vòng 3-6 tháng và kết quả khả quan. Theo WHO, Việt Nam đang phát triển một chương trình chữa bệnh viêm gan C. Chưa thể tìm thấy là phác đồ điều trị sẽ áp dụng ở Việt Nam như thế nào và không thể trả lời câu hỏi của vị thính giả hỏi về tên thuốc chữa trị viêm gan C mà có thể vị thính giả đã được đề nghị dùng chữa bệnh. Nói cách khác hiện nay có rất nhiều thứ thuốc khác nhau dùng trong việc chữa bệnh viêm gan C đòi hỏi kỹ năng của người điều trị điều trị và cũng đòi hỏi một nguồn tài chánh rất cao vì những thuốc này rất đắt tiền. Tốt hơn hết bệnh nhân nên hỏi các bác sĩ chuyên môn về bệnh gan C và có khả năng cung cấp cho mình những thuốc cần thiết, có thể là được tài trợ bởi chính phủ Việt Nam, bởi các cơ quan bảo hiểm y tế hay là các cơ quan y tế quốc tế ví dụ như WHO. References; 1)The management of chronic hepatitis C: 2018 guideline update from the Canadian Association for the Study of the Liver http://www.cmaj.ca/content/190/22/E677 2) Cost and Access to Direct-Acting Antiviral Agents https://www.hepatitisc.uw.edu/pdf/evaluation-treatment/cost-access-medications/core-concept/all 3) A Brief History of Hepatitis http://www.cevhap.org/index.php/en/about-viral-hepatitis/a-brief-history-of-hepatitis Bác sĩ Hồ Văn Hiền Ngày 27 tháng 2, 2019 Quý vị có thể xem và nghe lại các bài giải đáp trên mạng Internet ở địa chỉ voatiengviet.com Quý vị muốn được giải đáp các thắc mắc về những vấn đề y học thường thức, xin gọi đến số (202) 205-7890, hoặc E-mail đến địa chỉ .