TOP TRAVEL SITES

The Points GuyTime OutAtlas ObscuraTrip SavvyLonely PlanetTravel + LeisureTravel ChannelBoardingAreaOutside MagazineConde Nest TravelerFodor'sSmarterTravelRick Steves' EuropeFrommer'sOutdoor LifeBackpackerSunsetMidwest LivingAfarRough GuidesCoastal LivingSkiftIslands

TOP HEALTH & FITNESS SITES

National Institutes of HealthWebMDHealthlineLIVESTRONG.COMMayo ClinicPsychology TodayMedscapeMen's HealthEverydayHealth.comMercolaMen's FitnessVery WellGreatistShapePreventionSelfHealthWomen's HealthRunner's WorldMindBodyGreenWell & GoodMuscle & FitnessFitness MagazineDoctor Oz

Vết chàm bẩm sinh (congenital melanocytic nevus)

Thính giả Huế Bùi hỏi: “Thưa Bác sĩ, Bác sĩ cho em hỏi. Bé nhà em mới sinh nhưng đã có vết chàm đen to khoảng 0,5cm. Bác sĩ có thể tư vấn giúp em làm thế nào để loại bỏ vết chàm này được không ạ? Em xin cảm ơn ạ.​" Bác sĩ Hồ Văn Hiền trả lời:  Đây là một câu hỏi có vẻ giản dị nhưng thật ra rất phức tạp và khó trả lời dứt khoát. Các ý kiến có thể khác nhau tùy theo chuyên gia và liên hệ tới việc xếp loại các vết chàm, cơ nguy biến chứng, nhu cầu về thẩm mỹ và về sự cần thiết hay không của các loại can thiệp chữa trị. Những nhận xét sau đây chỉ có tính cách thông tin. Mỗi trường hợp cần được bác sĩ xử lý riêng rẽ. Vết chàm xảy ra trên 0,2-2% các trẻ sơ sinh, đi từ màu nâu đến màu đen đậm; đa số sờ vào thấy phẳng, một số ít nổi cộm lên. Vết chàm gồm những tế bào melanocytes (tế bào phụ trách màu da) tăng sinh (proliferation) một cách bình thường ở một vùng da sinh hắc tố (melanin= hắc tố, chất màu đen ; melano= màu đen; cyto=tế bào). Nếu bắt đầu càng sớm trong sự phát triển bào thai thì vết chàm càng lớn lúc bé ra đời. Một số ít, chừng 5%-7%, có thể chuyển thành ung thư da melanoma, nhất là vết chàm lớn . Tuổi trung bình định bịnh melanoma là 15.5 tuổi, tuổi median age (điểm giữa người già nhất và trẻ nhất) là 7 tuổi.(1) Gần đây, có khảo cứu cho rằng cơ nguy biến thành ung thư (melanoma) thấp hơn nhiều (0,7%-2,9%)(2). Các số liệu trên căn cứ trên người da trắng (Caucasian) , cơ nguy melanoma trên dân da màu có thể thấp hơn nữa, tuy nhiên hiện nay chưa có số liệu khách quan về vấn đề này, phần lớn là những nghiên cứu trên người Triều tiên mà thôi. Nếu trên 50 vết chàm , hay vết chàm dị dạng, ung thư càng cao. Tuy nhiên, cơ nguy ung thư da nói chung tuỳ thuộc về di truyền và nhất là chủng tộc. Ảnh hưởng quan trọng của tia cực tím để gây ung thư da melanoma đặc biệt xảy ra ở người da trắng; tác dụng trên các giống dân khác , ví dụ người Đông Á hay Đông Nam Á chưa hiểu rõ. Phần đông melanoma ở người châu Á xảy ra ở vùng tận cùng cơ thể (acral lentiginous melanoma (ALM)) như bàn tay, bàn chân và dưới móng, là những vùng bị tác dụng các chấn thương thường xuyên, nhưng lại không phơi nhiễm tia cực tím.(1) Đại khái, có thể ước tính kích thước lúc bé trưởng thành bằng cách nhân với x1,7 nếu trên đầu ; x2.8 ở mình và tay/cánh tay; x3.3 ở hạ chi (cẳng chân, chân).. Người ta xếp loại các vết chàm này theo cở lớn nhỏ của nó: 1) Nevus khổng lồ (giant nevus), đường kính trên 14cm ở trẻ sơ sinh (infancy); ước tính kích thước >40cm ở người lớn. Nevus khổng lồ có thể nằm bất cứ nơi nào trên cơ thể, nhưng thường là trên thân mình hoặc các chi. Màu sắc từ nâu đến đen và có thể đậm hơn hoặc nhạt hơn theo thời gian. Bề mặt có thể bằng phẳng, thô nhám, cộm lên, dày hoặc lộm cộm; bề mặt có thể khác nhau ở các vùng khác nhau của nevus và thay đổi theo thời gian. Da của nevus thường khô và dễ bị kích ứng (irritation), làm khó chịu và ngứa (viêm da). Lông có thể mọc ra nhiều trên nevus (hypertrichosis). Thường dưới da của nevus, lớp mỡ mỏng hơn dưới da bình thường; ở đó có thể mỏng hơn so với da chỗ khác. Bịnh nhân mắc nevus khổng lồ có thể có một hoặc nhiều vết chàm khác, thường là nhỏ hơn, vết chàm "vệ tinh" (satellite) đi theo vết lớn chính, hoặc rải rác trên cơ thể . Bịnh nhân có thể cảm thấy lo lắng hoặc stress do tác động của nevus có thể có đối với ngoại hình và sức khỏe. Trẻ em có thể phát triển các vấn đề về cảm xúc hoặc hành vi (emotional and behavioral problems) 2) Nevus lớn : trên 12cm nếu ở đầu, trên 7 cm nếu ở phần còn lại của cơ thể; ước tính kích thước 20-40 cm ở người lớn 3) Nevus trung bình 0,5-7cm ở trẻ sơ sinh; ước tính kích thước 1,5cm-20cm ở người lớn 4) Nhỏ: nhỏ hơn 0,5cm ở trẻ sơ sinh (có bs cho rằng vết chàm dưới 1,5 cm là nhỏ), ước tính kích thước: nhỏ hơn 1,5cm ở người lớn (2) Ba nhóm trên (1-2-3) cần được bác sĩ chuyên về da theo dõi. Nếu bác sĩ chuyên về da thấy có dấu hiệu ung thư da (melanoma) sẽ tính tới chuyện cắt bỏ, tuy cắt bỏ các nevus lớn sẽ rất khó khăn và cần da thay thế. Cần theo dõi sau khi cắt bỏ xem có tái lại hay không. Nhóm cuối cùng [(4) nevus nhỏ] nên được bs gia đình theo dõi đều đặn xem có gì thay đổi hay không: màu sắc, hình dạng, độ dày, nổi cộm. Mụt ruồi, vết chàm đã từng được cắt bỏ phòng ngừa cũng nên để ý theo dõi, vì vẫn còn cơ nguy bị melanoma.(2) Trường hợp vết chàm nhỏ (nevus 0,5cm -1,5cm), chỉ lớn theo sự tăng trưởng của em bé, và không có thay đổi gì khác, bác sĩ nhi khoa hay gia đình chỉ theo dõi cho đến lúc bịnh nhân đủ lớn (10-12 tuổi) để chịu đựng được chích thuốc tê tại chỗ. Nếu bé đồng ý , hay muốn cắt bỏ vết chàm đi, lúc đó có thể nhờ bác sĩ giải phẫu (chuyên về thẩm mỹ nếu trên mặt) lấy ra, hay xét đến những can thiệp không phẫu thuật như lột da bằng hóa chất (chemical peel), đốt bằng laser (laser ablation), dermabrasion. Bác sĩ có thể chọn cắt bỏ (excision) vết chàm thay vì dùng những biện pháp nông hơn vì muốn loại bỏ khả năng các tế bào ung thư nằm ở sâu có thể tồn tại và xuất hiện về sau ở vết chàm đã được tẩy xoá. Tuy nhiên, nếu không có vấn đề gì bất thường xảy ra (như làm xấu đi, biến đổi màu bất bình thường, nghi có dấu hiệu ung thư, vết chàm nằm chỗ khó quan sát như sau lưng, trong tóc), không có chỉ định để phải giải phẫu làm gì.(3) Tất cả các nhận xét trên đều có tính cách thông tin. Bịnh nhân cần nhờ bác sĩ của mình khám và theo dõi. Chúc bịnh nhân may mắn. Bác sĩ Hồ Văn Hiền Ngày 16 tháng 9 năm 2019   References: 1) Cutaneous Melanoma in Asians https://www.ncbi.nlm.nih.gov/pmc/articles/PMC5040767/ 2) McLaughlin M. R. Newborn Skin, Part II: Birthmarks http://www.aafp.org/afp/2008/0101/p56.html 3) http://www.ncbi.nlm.nih.gov/pubmed/24469170 4) http://www.dermnetnz.org/lesions/congenital-naevus.html American Family Physician http://www.aafp.org/afp/2008/0101/p56.html 5)Giant congenital melanocytic nevushttps://ghr.nlm.nih.gov/condition/giant-congenital-melanocytic-nevus#inheritance Quý vị có thể xem và nghe lại các bài giải đáp trên mạng Internet ở địa chỉ voatiengviet.com Quý vị muốn được giải đáp các thắc mắc về những vấn đề y học thường thức, E-mail đến địa chỉ .
 

Vết chàm bẩm sinh (congenital melanocytic nevus)

Vết chàm bẩm sinh (congenital melanocytic nevus)
 

Thêm một phụ tá Tòa Bạch Ốc từ chức

Thêm một phụ tá của Tòa Bạch Ốc từ chức, tổ chức bất vụ lợi do ông đồng sáng lập loan báo ngày 11/9. Quan chức này từng cương quyết cho rằng khí thải CO2 tốt cho hành tinh.
 

Bịnh "Xơ cứng cột bên teo cơ"

Thính giả Anh Vy hỏi: “Thưa Bác sĩ, Tôi rất cảm ơn về bài trả lời trước về căn bệnh này. Tuy nhiên tôi rất muốn hiểu thêm về căn bệnh này nên xin bác sĩ giúp tôi thêm . 1. Phương pháp tế bào gốc có phải là tối ưu hiện nay đối với bệnh ALS không ạ? 2. Các biện pháp để đẩy lùi căn bệnh này tối ưu hiện nay là gì ạ? Cảm ơn Bác sĩ nhiều ạ.​" Bác sĩ Hồ Văn Hiền trả lời:  Bịnh "Xơ cứng cột bên teo cơ", thuật ngữ này dịch tên tiếng Anh là Amyotrophic lateral sclerosis (ALS), tiếng Pháp là la sclérose latérale amyotrophique. Tóm tắt, đây là một bịnh gây liệt các cơ do các tế bào thần kinh vận động phụ trách điều khiển các cơ này nằm trong não bộ và tủy sống bị thoái hoá, hư hại. Chúng ta phân tích từ này để hiểu bịnh hơn: 1) amyotrophic: a= không có myo=cơ bắp, bắp thịt; trophy nuôi dưỡng; các cơ không được nuôi dưỡng tử tế, nên bị teo lại, nói ngắn là "teo cơ". Bình thường các cơ bắp được nối liền với dây thần kinh vận động đi từ các nơ-ron (neuron, tế bào thần kinh) vận động trong sừng trước của tủy sống; các tế bào này lại liên kết với neuron võ vận động (motor cortex neuron) trên não bộ qua một bó dây thần kinh (tương tự như một bó dây điện), bó này gọi là “đường vỏ não-tuỷ sống bên” (lateral corticospinal tract), có nghĩa là nằm một bên , khác với đường trước và đường sau. 2) sclerosis= tình trạng xơ Lúc được nuôi trong môi trường của phòng thí nghiệm, tế bào gốc có khả năng phân chia trong thời gian vô hạn định và từ tế bào gốc, có thể tạo nhiều loại tế bào chuyên biệt như tế bào máu, tế bào thần kinh, xương, cơ, da và các loại tế bào khác. Tế bào gốc được dùng để nghiên cứu nguyên nhân của ALS và tìm kiếm các phương pháp điều trị mới. Các loại tế bào gốc: Tế bào gốc nội sinh (*endogenous stem cells): Tế bào gốc đã có sẵn trong cơ thể. Một số lượng nhỏ tế bào gốc nội sinh có mặt trong nhiều mô khác nhau, chẳng hạn như tủy xương, da và các bộ phận khác nhau của não và tủy sống. Các tế bào gốc đa năng do cảm ứng (iPSC; induced Pluripotent Stem Cells)từ các tế bào da, máu. Các tế bào gốc có thể được tạo ra từ các tế bào da trưởng thành, được gọi là nguyên bào sợi (fibroblast). Các tế bào da được xử lý trong đĩa Petri trong phòng thí nghiệm với một loại hỗn hợp chính xác gồm các yếu tố tăng trưởng tìm thấy trong thiên nhiên, để quay ngược thời gian, và biến chúng trở lại thành các tế bào giống như các tế bào từng sinh ra chúng - tế bào gốc. Những năm gần đây iPSC đã trở nên nguồn tế bào gốc quan trọng nhất cho nghiên cứu ALS. Tế bào gốc của phôi thai (embryonic stem cells): Tế bào gốc hình thành trong quá trình phát triển của thai nhi và người ta có thể khai thác tế bào gốc từ bào thai trong tuần đầu tiên sau khi thụ thai. Trước đây, lúc ban đầu, nghiên cứu về tế bào gốc dùng các tế bào phôi này, nay phần lớn đã chuyển sang IPSCs. Ngoài việc giải quyết vấn đề đạo đức y học của việc dùng tế bào từ bào thai, iPSC còn cho phép có thể tạo nên những mô hình bệnh đặc biệt cho từng trường hợp cá nhân vì dùng tế bào của người đó để quay ngược kim đồng hồ tạo nên tế bào gốc của chính họ, và sản xuất một lượng lớn tế bào gốc này để nghiên cứu tác dụng của các thuốc men trên tế bào mắc bịnh. Vai trò tế bào gốc trong điều trị bệnh ALS. 1) Lý tưởng là dùng tế bào gốc để thay thế tế bào thần kinh (neuron) đang chết, tuy nhiên hiện nay chưa thực hiện được. Trở ngại quan trọng là làm sao tế bào mới thế vào kết nối được với các cơ mà chúng nó sẽ điều khiển. Hiện nay, mục đích thực tế và khả thi hơn là dùng tế bào gốc như là nguồn cung cấp các chất dinh dưỡng có thể giúp ích cho sự sống còn của những neuron bị bịnh đe dọa. Ứng dụng có khả năng nhất là sử dụng tế bào gốc hoặc tế bào được phát triển từ tế bào gốc để cung cấp các yếu tố tăng trưởng (growth factors) hoặc phân tử có khả năng bảo vệ cho các tế bào thần kinh vận động trong tủy sống. Các thử nghiệm lâm sàng về cấy ghép tế bào gốc như vậy đang ở giai đoạn đầu và có vẻ an toàn. Ngoài ra, cấy ghép tế bào hình sao (astrocyte) khỏe mạnh có khả năng giúp ích các tế bào thần kinh vận động trong não và tủy sống. 2) Tập thể tế bào keo (glial cells, neuroglia, hay "glia" [glia gốc Hy Lạp có nghĩa là keo dán)) là hệ thống mô liên kết của não bộ, nuôi dưỡng và bảo vệ các neuron hay tế bào thần kinh. Astrocytes là những tế bào glia gồm nhiều nhánh lan tỏa từ thân tế bào ở giữa nên được so sánh với ngôi sao với các tia sáng tỏa chung quanh. Tế bào hình sao này đóng vai trò quan trọng trong việc nuôi dưỡng, bảo vệ, và tổ chức của các neuron.Trong bịnh ALS, các tế bào sao của hệ thống glial cells hoạt động không bình thường và tạo một môi trường độc (toxic environment) đối với các tế bào thần kinh vận động. Hiện đang có những khảo cứu dùng những tế bào gốc lấy từ óc và biến đổi chúng thành tế bào sao lành mạnh và chích các tế bào này vào tuỷ sống (cùng với chất neurotrophic factor mà chúng sản xuất trong phòng thí nghiệm), để chúng sản xuất các chất giúp cho sự sống của tế bào thần kinh (neurotrophic factors, NTF hay GDNF/glial cell derived neurotrophic factor).(Svendsen)(3) Một nghiên cứu dùng các tế bào MSC (mesenchymal stem cell) được biến cải thành MSC-NTF (tế bào gốc sản xuất NTF), chích vào các cơ và chích vào tủy sống người bịnh và kết luận "an toàn, có thể có ích" (Intrathecal and IM administration of MSC-NTF cells in patients with ALS is safe with indications of possible, clinically meaningful benefits)(2016) (4). Chúng ta nên hiểu những tin tức nêu trên về chữa trị ALS chỉ mới có tính cách sơ khởi và trên thực tế lâm sàng chưa có kết quả cụ thể. Hiện nay dùng tế bào gốc trong trị liệu ALS là một cố gắng nhiều hứa hẹn của y khoa đòi hỏi những kiến thức và những phương tiện mới và chỉ được tìm thấy một số ít trung tâm khảo cứu. Nên cẩn thận với những "clinic", phòng mạch hứa hẹn chữa bịnh nhanh chóng bằng tế bào gốc với giá tiền rất cao. Đa số các "clinical trial" chữa bịnh nhân tình nguyện với thuốc men, trị liệu pháp trong giai đoạn khảo cứu không lấy tiền bịnh nhân. Bịnh nhân đang tính đến việc dùng trị liệu tế bào gốc nên tham khảo tài liệu hướng dẫn của hội các nhà khảo cứu tế bào gốc (The ISSCR Patient Handbook on Stem Cell Therapies) (5). Sau đây là ý kiến của một nhà khảo cứu về lãnh vực ALS, TS Clive Svendsen, PhD, tác giả của khảo cứu về tế bào gốc nêu trên, người điều khiển Cedars-Sinai Board of Governors Regenerative Medicine Institute: “Câu chuyện hấp dẫn xuất hiện trên các bản tin tức hàng ngày về những bệnh nhân được chữa khỏi đau đầu gối hoặc các bệnh như ALS bằng cách tiêm tế bào gốc của người trưởng thành (adult stem cells) lấy từ chính người bịnh. Nhiều câu chuyện trong số này đề cập đến các phương pháp điều trị không được chấp thuận từ các “phòng khám” (clinic) mà không cung cấp bằng chứng khoa học cho thấy các phương pháp điều trị này là an toàn và hiệu quả.” Svendsen cho biết có những thử nghiệm hợp lý, được hỗ trợ bởi nghiên cứu đang cố gắng sử dụng tế bào gốc trưởng thành để điều trị ALS. “Thật khó để công chúng có thể lội vào tất cả các lựa chọn này và hiểu được những gì là thật và những gì không có thật.” Vị thính giả hỏi về "các biện pháp để đẩy lùi căn bệnh này tối ưu hiện nay", tôi xin kể lại bài báo Washington Post tôi đọc sáng nay về trường hợp một người trẻ 35 tuổi. “Bịnh ALS làm thân thể anh tê liệt. Hoạt động xã hội, gia đình và tình yêu cho anh khả năng phục hồi”. Ady Barkan, một người hoạt động xã hội (social activist) ở Mỹ, có vợ và một đứa con 3 tuổi. Anh ngồi xe lăn và nói chuyện qua computer. Anh vừa xuất bản cuốn sách tựa đề "Mắt nhìn về cơn gió" (Eyes to the winds), kể lại chuyển biến lúc anh bị định bịnh ALS, chấn động và hoảng sợ lúc ban đầu đã dần dần biến thành một ý thức mạnh mẽ hơn về sự cần thiết của công bằng xã hội, một cam kết mới đối với lý tưởng hoạt động của mình để những ngày tháng ngắn ngủi còn lại không bị bỏ phí. Anh cũng đang học tĩnh tâm, thiền định (meditation), anh cố gắng "nói" chuyện thật nhiều với gia đình, người thân và đang tìm cách có thêm một đứa con nữa. Những nhận xét ở trên chỉ có tính cách thông tin. Bịnh nhân cần nhờ bs gia đình tìm cho mình một chuyên gia về bịnh thần kinh để giải quyết vấn đề định bịnh rất phức tạp, cũng như để điều trị thích hợp. Chúc bịnh nhân may mắn. Bác sĩ Hồ văn Hiền Ngày 9 tháng 9, năm 2019 1) http://www.alsa.org/research/focus-areas/stem-cells/ 2)https://alsnewstoday.com/stem-cell-gene-therapy-for-als/ 3)https://blog.cirm.ca.gov/2017/10/09/can-stem-cell-therapies-help-als-patients/ 4) Safety and Clinical Effects of Mesenchymal Stem Cells Secreting Neurotrophic Factor Transplantation in Patients With Amyotrophic Lateral Sclerosis Results of Phase 1/2 and 2a Clinical Trials https://jamanetwork.com/journals/jamaneurology/fullarticle/2480881 5)The ISSCR Patient Handbook on Stem Cell Therapies The International Society for Stem Cell Research has created a take-along PDF handbook with information to help you and your family make informed decisions about stem cell treatments. https://www.closerlookatstemcells.org/patient-resources/ 6)ALS has paralyzed his body. Activism, his family and love are keeping him resilient. https://www.washingtonpost.com/health/als-has-paralyzed-his-body-activism-his-family-and-love-are-keeping-him-resilient/2019/09/06/21773148-ce5c-11e9-b29b-a528dc82154a_story.html Quý vị có thể xem và nghe lại các bài giải đáp trên mạng Internet ở địa chỉ voatiengviet.com Quý vị muốn được giải đáp các thắc mắc về những vấn đề y học thường thức, E-mail đến địa chỉ .
 

Bịnh "Xơ cứng cột bên teo cơ"

Bịnh "Xơ cứng cột bên teo cơ"
 

Sức khoẻ và bệnh tật của người lớn tuổi

Số người lớn tuổi tăng nhanh ở khắp nơi trên thế giới, nhất là ở các nước đang phát triển,. Ở Hoa kỳ hiện có 52 triệu người trên 65 tuổi, chiếm 16% dân số. Tuổi tác tăng kèm theo những thay đổi về sức khỏe khiến cho nhóm những người lớn tuổi là một thành phần đáng chú ý trong xã hội. Suy giảm chức năng Ngay cả những người được coi là khỏe mạnh cũng có những suy giảm về chức năng: thị lực giảm, mắt thường có cườm, nhìn không rõ, nhất là khi lái xe ban đêm, hoặc khi trời mưa hoặc khi đèn của xe đi ngược chiều chiếu vào mắt nên dễ bị tai nạn. Họ cần mổ cườm khi có trở ngai, cũng như khám mắt hàng năm để ngừa các bệnh khác. Sức nghe của người lớn tuổi giảm nhất là đối với giọng cao, người nói quá nhỏ, nói quá nhanh. Họ nghe được nhưng không hiểu được, có khi người nói nói một câu dài, tiếng to tiếng nhỏ làm cho người lớn tuổi nghe tiếng được tiếng không nên dễ bị nhầm lẫn. Do đó khi nói với người lớn tuổi, cần đứng trước mặt họ, nói chậm và lớn tiếng, rành rọt từng tiếng thì họ dễ nghe được hơn. Các máy nghe ngày nay tuy khá tốt nhưng chưa hoàn chỉnh lại đắt tiền nên người lớn tuổi không cung ứng được. Dù vậy họ vẫn cần có máy nghe vì mất liên lạc với thế giới bên ngoài, bị hạn chế thông tin làm cho ho dễ bị trầm cảm và suy giảm trí tuệ. Họ biết là nghe kém nhưng vẫn chủ quan, một ông trách vợ: “Sao ngày xưa em nói dịu dàng như thế mà bây giờ em la lớn tiếng như thế?!”. Ông quên rằng vì ông bị điếc nên bà vợ phải nói lớn tiếng, không phải vì bà không dịu dàng như trước! Ngoài thính giác và thị giác, vị giác cũng thay đổi, họ mất dần cảm giác ngon ngọt vì những đầu thần kinh tiếp nhận cảm giác ngon ngọt mất đi, chỉ những đầu thần kinh tiếp nhận cảm giác đắng còn tồn tại nên họ thấy đắng miệng, ăn không ngon, phải dùng nhiều gia vị để tăng khẩu vị. Thêm vào đó răng bị mòn, thường bị bệnh cổ chân răng, bi sâu răng, có mủ ở chân răng, phải rút tuỷ hoặc phải nhổ, do đó không nhai tốt, không ăn được thịt và các đồ ăn cứng nên sự nuôi dưỡng giảm, làm cho xuống cân và yếu sức. Cần phải cho họ răng để ăn. Trong khi đó tóc rụng làm cho đầu hói tóc thưa, bạc, da dăn deo, khô, ngứa nhất là khi thời tiết lạnh do mất chất mỡ dưới da nên người lớn tuổi cảm thấy lạnh hơn người trẻ. Diện mạo thay đổi, đúng là “cái răng, cái tóc là góc con người”. Các khớp xương thoái hoá, lưng còng và đau, đi lom khom, đầu gối biến dạng và đau, bắp thịt teo nhỏ, chân tay run rẩy, dễ bị té ngã. Té ngã là tai nạn hay xẩy ra nhất ở người lớn tuổi ở Hoa kỳ, từ 30-40% người lớn tuổi bị té ngã mỗi năm. Một cái té nhẹ trong nhà tắm hoặc bước hụt có thể làm gẫy cổ xương đùi hoặc chấn thương sọ não làm chẩy máu não, phải nhập viện để mổ. Người lớn tuổi nằm bệnh viện dễ bị nhiễm trùng, viêm phổi, suy tim, biến chứng này dẫn đến biến chứng khác nên dễ bị tử vong. Cần khuyến khích vật lý trị liệu, tập tài chi để giữ thăng bằng, xếp đặt phòng ốc, lối đi, hành lang có tay vịn để tránh vấp ngã, cung cấp gậy, xe lăn, ghế tắm v..v.. Suy giảm tinh thần Ngoài sự suy giảm về cơ thể, tinh thần người lớn tuổi cũng thay đổi dù không có bệnh tâm trí. Họ có những thói quen khó bỏ, hay quên những việc mới xẩy ra, có thể quên tên của một người bạn nhưng một lúc sau lại nhớ lại được, đây không phải là bệnh, chỉ là lão hoá. Họ vẫn xử dụng được các dụng cụ quen dùng nhưng khó học các kiến thức mới, khó học được cách dùng các dụng cụ phức tạp. Đứng trước một tình huống phức tạp họ bối rối, không biết cách xử trí. Đến một quang cảnh lạ họ bị lác hướng, không biết tìm lối ra nên dễ bị lạc. Đó là sự lão hoá bình thường. Họ cũng dễ bị dụ dỗ, lừa gạt, dễ nghe theo những lời dụ dỗ bởi những quảng cáo, và của những người muốn làm tiền vì họ không suy xét được. Họ thường có một số bệnh mãn tính như cao huyết áp, tiểu đường, bệnh tim mạch, suy thận hoặc ung thư và thường phải uống nhiều thứ thuốc do đó dễ bị nhầm lẫn cũng như bị tác dụng phụ của thuốc làm cho chóng mặt, buồn ngủ v..v..Ngày trước họ là chủ gia đình, chỉ bảo con cái, bây giờ phải nhờ con cái đưa đi khám bệnh, dẫn đường, khai bệnh với bác sĩ, và nghe chỉ dẫn của bác sĩ vì họ không lái xe được, không nói năng mạch lạc, không nghe được đầy đủ, hay nhầm lẫn và dễ quên. Bác sĩ muốn được việc và nhanh chóng cũng muốn nói thẳng với con cái và không để ý đến đương sự là người bệnh làm cho họ cảm thấy yếu kém, bị gạt sang bên lề, bị loại ra khỏi số người bình thường. Một số người buồn bã chán nản, bị trầm cảm, chán ăn, khó ngủ, không thiết sống, do đó không điều trị tốt. Một số khác, nhất là phụ nữ có thể bị sa sút trí tuệ, không những quên những việc mới xẩy ra nhưng quên dần về quá khứ, quên tên con cháu, quên ngày sinh tháng đẻ, đến lúc không còn biết mình là ai. Những người này cần sự săn sóc toàn diện, gồm ăn ngủ, tiêu tiểu, tắm rửa vệ sinh cơ thể. Họ không khổ vì không còn biết gì nhưng con cháu khổ không những vì phải săn sóc cơ thể nhưng khổ vì bố mẹ không nhận ra mình mà có khi ngược lại bố mẹ tưởng nhầm rằng mình là bố hay là mẹ! Sự cô độc Ngày nay con cái đi làm xa, phải lo sinh kế và lo cho vợ con riêng của mình nên ít có khả năng thăm hỏi chăm sóc cho bố mẹ như trước. Một ông trên 70 tuổi, góa vợ, bị ung thư đại tràng đã được giải phẫu, mở hậu môn ra thành bụng, phải mang túi chứa phân ở thành bụng. Ông đã được hóa trị nhiều lần vì ung thư di căn, với nhiều tác dụng phụ, ăn không được, ngủ không được, chân tay tê cứng. Ông sống một mình, tự săn sóc, cố theo đuổi sự điều trị. Ông nói: “Tôi có 6 người con nhưng cả năm đến ngày sinh nhật chỉ có một người gọi điện thoại hỏi thăm!”. Tuy vậy trong thực tế vẫn có nhiều người con rất tốt, bỏ công ăn việc làm, ở nhà săn sóc bố mẹ. Một ông có mẹ bị bệnh sa sút trí tuệ. Bà bị hoang tưởng nghi là có người theo dõi hãm hại mình, nghi con dâu bỏ thuốc độc cho mình, lấy trộm tiền của mình. Cô con dâu không chịu nổi, đòi ly dị. Ông đành thuê nhà ở riêng với mẹ để nuôi mẹ! Biện pháp giúp người lớn tuổi. Báo cáo cho biết nguòi Mỹ lớn tuổi, nhất là những người ở nông thôn gặp khó khăn trong việc đi lại, làm cho họ không đi khám chữa bệnh thường xuyên được do đó không được điều trị tốt, ảnh hưởng bất lợi cho sức khoẻ. Ngoài những biện pháp giúp người lớn tuổi phục hồi một phần chức năng bị suy giảm như đã nói ở trên, ở Mỹ có tổ chức bảo vệ người lớn tuổi, tránh cho họ bị bỏ rơi, bị ngược đãi hoặc bị lạm dụng về thể xác cũng như về tiền bạc. Nhân viên y tế và mọi người có trách nhiệm phát hiện và báo cáo những trường hợp ngược đãi người lớn tuổi với cơ quan chức năng để có biện pháp bảo vệ. Nếu người đó không tự săn sóc và bị suy giảm trí tuệ đến mức không còn hiểu biết để tự quyết định, sẽ có phán quyết của tòa án, cử người bảo trợ và xếp đặt để người đó được săn sóc chu đáo. Ngoài ra để giúp đỡ những người không tự săn sóc được, có tổ chức gọi là ”Săn sóc tại Nhà” đưa nhân viên đến nhà, để giúp đỡ người lớn tuổi trong sinh hoạt hàng ngày thay cho thân nhân, đưa họ đi khám bệnh, mua thuốc, nhắc nhở uống thuốc, đi chợ, coi sóc việc ăn uống. Săn sóc tại Nhà cũng tổ chức các buổi hội họp sinh hoạt để người lớn tuổi gặp nhau chuyện trò, ca hát và khiêu vũ… Nghiên cứu cho thấy những việc này nếu làm đúng giúp cho người lớn tuổi được điều trị tốt hơn, giảm bớt số người phải nhập viện, giảm bớt chi phí về y tế. Một điều đáng khích lệ là hiện nay 20% người Mỹ trên 65 tuổi vẫn còn làm việc để tăng thu nhập và đóng thuế. Số này tăng gấp đôi so với năm 1985. Tóm lại có nhiều biện pháp giúp cho người lớn tuổi sống khoẻ mạnh và sống lâu, vui hưởng tuổi già, thu ngắn lại thời gian bị tàn phế. Bác sĩ Nguyễn Văn Đích  (Ngày 4 tháng 9 năm 2019)
 

Thuốc lá điện tử

Hội Chuyên môn về Bệnh Phổi của Hoa kỳ thông báo rằng thuốc điện tử không an toàn, có thể gây bệnh và tổn thương không phục hồi được ở phổi, không ai nên hút thuốc điện tử và thuốc lá nói chung.
 

Tăng vòng ngực

Thính giả Nguyen Sammie hỏi: “Thưa Bác sĩ, Em muốn biết hiện tại phải làm cách nào để có thể tăng kích thước vòng một lên một cách nhanh nhất, tốt nhất và hiệu quả nhất ạ? Em đã dùng rất nhiều cách như uống sữa đậu nành, ăn những thức ăn có thể tăng kích thước vòng một mà nó không phát triển. Năm nay em đã được 23 tuổi rồi, mà ngực của em vẫn bé xíu không phát triển được. Mong Bác sĩ có thể tư vấn chỉ em cách tăng vòng một lên như lứa tuổi của em với ạ, cách nhanh nhất, tốt nhất và hiệu quả nhất ạ. Cảm ơn Bác sĩ nhiều ạ.​" Bác sĩ Hồ Văn Hiền trả lời:  Bộ phận vú ở người phụ nữ trưởng thành gồm những tế bào sản xuất sữa (lúc có thai hoặc sau khi sinh con) kết hợp thành những tiểu thuỳ (lobules). Mỗi thuỳ nhỏ (lobule) dồn chung sữa vào một ống dẫn sữa chung (lactiferous duct) mở ra trên đầu núm vú. Ngoài ra, có mô chống đỡ gồm mô liên kết sợi và mô mỡ. Các dây chằng (ligaments) đi từ da, qua vú và bám vào cơ ngực (pectoralis) là một cái cơ lớn hình cách quạt đi từ xương ức ở giữa ngực qua vai. Mỡ chiếm đến 7-58 % thể tích của vú và trộn lẫn với các mô tuyến sản xuất sữa. Vú bắt đầu phát triển trong giai đoạn dậy thì, từ 10 đến 12 tuổi, lúc phản ứng với các thay đổi nội tiết trong cơ thể, phần chính là estrogen và progesterone trong máu gia tăng. Vú bắt đầu tích tụ mỡ, các tuyến vú bắt đầu phát triển, các ống dẫn sữa phát triển và phân nhánh làm da ngực căng phồng ra. Ngực không phát triển theo ý muốn ở một phụ nữ trẻ là một điều thường gặp. Kích thước và hình dạng mỗi người khác nhau. Kích thước tùy thuộc vào lượng chất béo trong vú. Ở cùng một người, hai bên vú thường hơi khác nhau, với bên này lớn hơn, cao hơn hoặc hình dạng khác so với bên kia. Ngực phụ nữ trẻ dày đặc (dense) hơn vì tỷ lệ mô tuyến cao hơn so với phụ nữ lớn tuổi. Khi phụ nữ có tuổi, phần lớn các tuyến và mô ống được thay thế bằng mỡ làm cho ngực bớt dày đặc. Các dây chằng (ligaments) bám vào cơ ngực cũng mất tính đàn hồi, khiến ngực thay đổi hình dạng và không còn đầy đặn như lúc còn trẻ. Tuỳ theo nền văn hoá và theo môi trường, sự mong đợi của bản thân cũng như của người ngoài có thể khác nhau. Trừ những trường hợp bịnh rõ rệt, đại đa số chỉ là vấn đề thẩm mỹ và có thể cái lợi đạt được (thoả mãn thị hiếu, có thể nhất thời, thay đổi) không bằng cái giá phải trả (tốn kém tiền bạc, thì giờ, cơ nguy về sức khoẻ) nhìn theo phương diện thuần tuý y khoa. 1) Trường hợp bịnh lý: Có những cô gái qua dậy thì mà vú không phát triển bình thường, tiếng Anh gọi là breast hypoplasia, tiếng Việt tạm dịch là "giảm sản" vú. Vú không phát triển mặc dù qua tuổi dậy thì, hoặc mô vú để sản xuất sữa quá ít và thật sự không cung cấp đủ sữa cho con bú. Nên nhớ là trường hợp này ít gặp, và đa số người mẹ than không đủ sữa cho con bú chỉ vì chưa áp dụng những kỹ thuật cho con bú vú mẹ đúng mức. Một số trường hợp cũng hiếm do di truyền. Ví dụ trong hội chứng Turner, người con gái chỉ có một nhiễm thể X thay vì 2 cái (XX). Ngoài một số đặc điểm như thấp, cổ như có một cái màng nối với thân (webbed neck), suy cơ năng buồng trứng, ngực các cô này dày hơn, nhô ra hơn trong lúc vú thì không phát triển nên được so sánh như cái áo giáp của người chiến binh ngày xưa (shield shaped thorax). Một số người ngực vùng xương ức bị lõm vào cũng làm cho ngực có vẻ lép (pectus excavatum). 2) Trong đại đa số còn lại, chỉ là vấn đề thẩm mỹ chủ quan, mặc dù rất phổ biến và chúng ta đều biết cả một kỹ nghệ kinh doanh tồn tại nhờ nhu cầu này của phụ nữ. a) Nâng ngực (breast augmentation): đặt một túi dưới vú. Thỉnh thoảng, nếu không có đủ mô vú để che đủ túi cấy, phải đặt túi cấy ghép dưới lớp cơ ngực (pectoralis muscle), phía sau vú. Vỏ ngoài bằng silicon, có thể mịn hoặc nhám, chứa gel silicon hoặc nước muối. Vì vú tiếp tục phát triển cho đến tuổi trên dưới 20, FDA chỉ cho phép ghép implant nước muối cho người 18 tuổi trở lên, túi silicon chỉ dùng cho người 22 tuổi trở lên. Nhược điểm của việc sử dụng implant là chúng có thể gây ra các biến chứng thậm chí nhiều năm sau khi đặt; vd thay đổi vị trí của cấy ghép, nhiễm trùng cần phải lấy implant ra để điều trị, một vỏ dày và cứng bọc chung quanh implant (periprosthetic capsule) có thể gây đau đớn; implant có thể vở và thay đổi hình dạng cũng như kích thước to nhỏ của vú. Bịnh nhân cần cảnh giác về các dấu hiệu túi ngực bị vỡ có thể nhiều năm sau khi được cấy ghép, có thể xảy ra sau khi chấn thương vào ngực, thường nhất là tai nạn xe cộ do dây an toàn hay túi hơi (airbag) bung vào ngực, hay vì đạp vào phía trước. Túi nước muối có thể xẹp xuống và nước muối được cơ thể hấp thụ và bịnh nhân dễ nhận thấy sự thay đổi. Túi đựng silicon có thể thay đổi hình dạng ít nhiều, và có những trường hợp silicon di chuyển vào những vùng ở nách và cánh tay. Cần xét đến việc lấy implant ra sau 10-15 năm.(2) Trong thập niên 2000's, một loại túi silicon mới gọi là "gummy bear" (“hình giọt nước mắt”/tear drop shaped, giống như kẹo dẻo gummy bear), túi bằng silicon, được nhét đầy bằng chất cohesive gel silicon, mềm hơn và có khả năng giữ hình dạng của nó tốt hơn, dù là túi bị xì, lủng. Một vấn đề là, bịnh nhân có khi bị túi lủng cũng không hay biết. FDA khuyên nên làm MRI ("chụp hình" cọng hưởng từ trường) sau 3 năm, và sau đó cứ 2 năm một lần để theo dõi nếu ghép túi silicon.Tuy nhiên,khuyến cáo này khó thực hiện vì ở Mỹ có trên 1 triệu người mang túi vú chứa silicon, và MRI cũng như siêu âm chưa chính xác lắm trong việc phát hiện lác túi silicon bị rò rỉ, nhất là ở phụ nữ không có triệu chứng gì cả.(3) Đặt túi "gummy bear" phẫu thuật đắt gấp 2-3 lần (US $6000-12000) phẫu thuật túi silicon thường.(4) Năm 2011, FDA nhận thấy có một số ít ung thư vú liên hệ với túi vú (breast implant), triệu chứng chính là sưng và đau, thường là nhiều năm sau khi ghép túi vào (Breast Implant-Associated Anaplastic Large Cell Lymphoma (BIA-ALCL))(5) b) Chuyền mỡ (fat transfer): hút mỡ từ nơi khác của cơ thể, tách các tế bào mỡ khỏi các phần khác của mỡ được hút ra và tiêm các tế bào mỡ vào vú. Một số bịnh nhân không muốn ghép implant chọn giải pháp này. Tuy nhiên kết quả khó dự đoán hơn , khó dùng cho trường hợp muốn tăng thể tích lớn, và thường phải chích nhiều lần mới đạt kết quả như ý. c) Brava Bra, một thiết bị hình dạng như nịt ngực có máy hút; căn cứ trên thuyết cho rằng tế bào chịu sức căng sẽ tăng trưởng (tension-induced growth). Giá chừng 2500 đô la ở Mỹ, chừng một nửa giá nâng ngực bằng phẫu thuật. Bịnh nhân mặc ít nhất 10 giờ mỗi ngày trong khoảng ba tháng. Có thể làm cở vú tăng lên chừng 2 nấc (cup size) , nhưng kết quả có thể chỉ là tạm thời và sau đó ngực nhỏ lại như củ. Có thể kết hợp Brava với phương pháp chuyền mỡ nói ở trên. FDA cho phép bán như là một thiết bị không bị quản lý (marketed as a unregulated device) nhưng không chứng nhận là có thật sự hiệu quả hay không. Một số khách hàng than phiền máy không hiệu quả, gây mẩn trên da và vú chảy sữa mặc dù không có thai. d) "Vòng số 1" không những tuỳ thuộc vào thể tích của vú mà còn tùy thuộc vào các cơ bắp vùng ngực , nách, cánh tay và lưng. Những động tác thể dục như: đứng, áp bàn tay vào tường, từ từ đẩy đầu đến gần mặt tường rồi từ từ kéo ra (wall presses) dang hai cánh tay hai bên, cử động cánh tay theo vòng tròn nhiều lần (arm circles) hít đất (push up) nằm ngửa, hai tay nâng quả tạ nhỏ lên xuống (chest press extension) duỗi hai cánh tay ra phía trước và dang ra hai bên(arm presses) chụm hai bàn tay lại và đẩy ra phía trước (prayer poses) . Tập như thế nhiều lần mỗi ngày có thể giúp làm vòng 1 tăng lên và dáng đẹp và khoẻ mạnh hơn.(6) e) Nhắc đến sữa đậu nành, trong đậu nành và các sản phẩm liên hệ như tàu hũ có chứa các hormon thực vật phytoestrogen có tác dụng tương tự như hormon estrogen của phụ nữ. Tuy nhiên tác dụng có thể không nhiều ở người phụ nữ khỏe mạnh. Sữa đậu nành chứa nhiều đường và do đó uống nhiều mỗi ngày có thể làm lên cân và do đó việc thể tích vú tăng có thể do lượng mỡ trong vú. Thuốc viên ngừa thai chứa estrogen và progestin (một loại progesteron tổng hợp), do đó làm thể tích vú tăng lên, nhưng tác dụng này ngưng sau vài tháng dùng thuốc. Một phần kết quả trên thể tích vú có thể do cơ thể giữ nước lại nhiều hơn. Nên nhớ thuốc viên ngừa thai làm cơ nguy ung thư vú tăng.(7) Tất cả các nhận xét trên đều có tính cách thông tin, quý vị muốn biết thêm chi tiết xin tham khảo các link kèm theo sau đây. Cần tham khảo với bác sĩ riêng của mình trước khi quyết định trị liệu. Chúc quý vị thính giả may mắn. Bác sĩ Hồ Văn Hiền Ngày 4 tháng 9 năm 2019   Tham khảo thêm: 1)https://www.ncbi.nlm.nih.gov/pubmed/11936199 2)Ten common breast augmentation questions answered https://www.plasticsurgery.org/news/blog/ten-common-breast-augmentation-questions-answered 3)Do Women with Silicone Breast Implants Need Follow-Up MRI Scans? Evidence on MRI to Detect Ruptured Implants Is Flawed, Says New Review https://www.plasticsurgery.org/news/press-releases/do-women-with-silicone-breast-implants-need-follow-up-mri-scans 4)https://www.healthline.com/health/gummy-bear-implants 5)https://www.fda.gov/medical-devices/breast-implants/questions-and-answers-about-breast-implant-associated-anaplastic-large-cell-lymphoma-bia-alcl 6)https://www.healthline.com/health/womens-health/how-to-increase-breast-size-naturally 7)http://www.bbc.com/future/story/20181003-does-the-birth-control-pill-make-you-fat Quý vị có thể xem và nghe lại các bài giải đáp trên mạng Internet ở địa chỉ voatiengviet.com Quý vị muốn được giải đáp các thắc mắc về những vấn đề y học thường thức, E-mail đến địa chỉ .
 

Tăng vòng ngực

Tăng vòng ngực
 

Đau dây thần kinh chẩm (occipital neuralgia)

Đau dây thần kinh chẩm (occipital neuralgia)
 

Tràn dịch màng phổi (pleural effusion)

Tràn dịch màng phổi (pleural effusion)
 

Viêm tiểu phế quản và vai trò kháng sinh

Viêm tiểu phế quản và vai trò kháng sinh
 

Tràn dịch màng phổi (pleural effusion)

Thính giả Thành Ngô hỏi: “Thưa Bác sĩ, Tràn màng dịch trong phổi là sao?​ Cảm ơn Bác sĩ” Bác sĩ Hồ Văn Hiền trả lời:  Phổi là hai bộ phận nằm trong lồng ngực, gồm hai túi co giãn được , trong đó có những ống dẫn khí, chia ra nhánh càng lúc càng nhỏ, để đem oxy (dưỡng khí) từ ngoài vào máu và thải CO2 (carbon dioxide, thán khí= hơi thở ra, thán=thở ra) trong máu ra ngoài. Hai lá phổi ôm trái tim ở giữa, cho nên sự co giãn của phổi có thể ảnh hưởng đến cơ năng của tim. Chung quanh hai lá phổi có màng phổi (pleura), gồm hai lớp mỏng cọ xát với nhau một cách trơn tru. Giống như lúc chúng ta lấy một cái bao nylon chưa mở ra (có hai lớp) và bọc chung quanh nắm tay: giữa hai lớp nilon có một không gian ảo (virtual space), nếu chúng ta đổ nước vào cái bao, lúc đó sẽ có một lớp nước bao quanh bàn tay của chúng ta. Không gian ảo này tồn tại chung quanh hai lá phổi, trong không gian đó bình thường chỉ có chừng 15-20ml dịch lỏng (pleural fluid) , để cho trơn tru lúc phổi co vào, giãn ra lúc hô hấp. Nếu vì một lý do nào đó, một chất lỏng như huyết thanh (serum), chất dịch rỉ (exudate), hay máu tràn vào không gian ảo đó, chúng ta sẽ có hiện tượng gọi là tràn dịch màng phổi (pleural effusion). Tràn dịch càng nhiều thì càng gây trở ngại cho cơ năng tim và phổi, vì nó sẽ bóp chặt phổi lại trong lồng ngực, không cho phổ giãn nở ra. a) Dịch rỉ (exudate) Nếu nguyên nhân tràn dịch màng phổi là một bịnh nhiễm trùng (pleurisy); vd như bịnh lao (tuberculosis) làm viêm màng phổi (sưng, làm mủ, exudate), thì đây là một trường hợp bịnh lây do vi khuẩn lao Mycobacterium tuberculosis. Viêm phổi (pneumonia), thuyên tắc động mạch phổi (emboli), nhiễm siêu vi cũng có thể gây ra loại tràn dịch này, gọi là dịch rỉ (exudate), trong đó có nhiều protein, tế bào và một số chất của hiện tượng viêm. Nếu người bịnh ung thư phổi (UTP) nặng, tế bào UT lan tận trong không gian màng phổi, tràn dịch màng phổi, thì cũng không lây; trừ trường hợp phổi người bịnh UT bị nhiễm thêm vi trùng nào nữa. b) Dịch thấm (transudate) Nếu một người bịnh suy tim (heart failure), xơ gan (liver cirrhosis), các chất dịch trong phổi không lưu thông tốt ra tĩnh mạch hay mạch lâm ba , vì áp suất trong tĩnh mạch hay mạch lâm ba quá cao. Dịch trong màng phổi khó thoát ra khỏi khoảng giữa hai màng phổi để đi vào tĩnh mạch hay mạch lâm ba để nhập vào hệ tuần hoàn, dịch bị ứ đọng (transudate, nồng độ protein thấp, dịch trong hơn) trong màng phổi (hydrothorax). Một số bịnh nhân có lượng protein/ albumin trong máu quá thấp (hypoalbuminemia, ví dụ hội chứng hư thận /nephrotic syndrome làm thải protein trong nước tiểu; suy dinh dưỡng nặng), cho nên mạch mao quản không giữ được nước để nước thẩm thấu vào màng phổi, gây tràn dịch màng phổi với dịch thấm. c) Máu Trường hợp chấn thương, máu có thể chảy vào giữa hai màng phổi (hemothorax), ép lá phổi xẹp xuống và đẩy lá phổi , trái tim về phía bên kia, làm trở ngại cho cơ năng hô hấp của phổi và bơm máu của tim. Máu trong màng phổi cũng có thể do ung thư, bịnh máu không đông bình thường, hay do mô nội mạc tử cung nằm không đúng chỗ (endometriosis) trong màng phổi (pleural endometriosis). Làm thế nào để biết sớm là trong phổi “có nước”, do ung thư hoặc do nguyên nhân khác? Tràn dịch màng phổi có thể gây những triệu chứng báo hiệu như nóng sốt, đau ngực (nếu là nước trong phổi do nhiễm vi khuẩn, pleurisy), nhất là lúc hít sâu vào, khó thở (dyspnea, có nghĩa là người bịnh ý thức về cố gắng hô hấp của mình, khác với bình thường chúng ta thở ra hít vào một cách tự nhiên), ho. Nói chung, lúc qua triệu chứng chúng ta phát hiện được "nước" trong phổi thì lượng "nước" này đã nhiều rồi. Nếu vì một lý do nào đó lo ngại là hay có gì "trục trặc" trong phổi, hay có "nước" trong phổi, thực tế hơn hết là khám (“check up”) với bác sĩ, và ghi rõ, cho bác sĩ biết những triệu chứng mình đặc biệt quan tâm để bác sĩ chú ý. Mình nên nêu rõ mình ưu tư về bịnh gì, ví dụ bịnh gan cho người uống rượu nhiều, từng bịnh viêm gan siêu vi B (HBV phổ biến ở người Việt, chừng 13%), bịnh suy tim (heart failure) nếu mình từng bịnh tim, hay gia đình có người bịnh tim; bịnh lao phổi (pulmonary tuberculosis) nếu nóng sốt, ho nhiều, từng thử phản ứng lao tố dương (positive tuberculin skin test, Mantoux test), hay bịnh viêm như lupus (lan sang) làm sưng các mạch máu (vasculitis); bịnh ung thư phổi nếu chúng ta hút thuốc nhiều, dù đã cai nhiều năm. (Nên nhớ nhiều người bị tác hại thuốc lá thụ động (passive smoking) do người khác nhả khói ra, mình hít vào. Ví dụ có 5 chữ "B" có thể gây ung thư : bowling alleys, billiard halls, betting establishments, and bingo parlours (the “5 B’s”); các quán rượu, các sòng đánh cá cược, các quán chơi bida, các tiệm bowling, các tiệm chơi xổ số bingo đều có mức nicotine và khói trong không khí cao hơn mức bình thường. Do đó, những người làm việc hầu như là suốt ngày suốt đêm ở những nơi đó bị nguy cơ bịnh phổi cũng như ung thư phổi cao hơn, dù là bản thân không hút thuốc lá. Chưa kể đến khía cạnh đấy thường là những nơi đông người, không thoáng khí, làm dễ truyền nhiễm đường hô hấp. Mới đây có khảo cứu trên hồ sơ 25.000 người cho thấy 3 bịnh: viêm phổi kinh niên (mãn tính, chronic bronchitis), khí thũng (không khí ứ đọng quá nhiều trong phổi; emphysema) và viêm phổi (pneumonia), có thể là một yếu tố góp phần gây UTP. Tuy nhiên, bịnh lao phổi (pulmonary tuberculosis), suyễn (asthma) thì lại không phải cơ nguy gây ra UTP (Ann Olsson, IARC, Pháp). ) Cho nên, tốt hơn hết là nhờ bác sĩ khám, cho bs biết những yếu tố cơ nguy của mình, những triệu chứng (symptoms) mà mình ghi nhận để bác sĩ tuỳ đó mà theo dõi. Nếu tràn dịch màng phổi đáng kể, khám bịnh trên lâm sàng cũng có thể phát hiện được. Hoặc dùng các phương tiện chẩn đoán thích hợp như chụp hình X quang, CT scan, MRI; thử máu (vd đo cơ năng gan, thận), đo tim (ECG), siêu âm (ultrasound), nếu cần. Nên theo dõi, ghi nhớ kết quả các thử nghiệm của mình. Nếu bs không liên lạc cần phải hỏi để không sơ sót. Tất cả những bịnh vừa kể đều có thể gây tràn dịch trong phổi, nhưng trừ trường hợp tràn dịch quá nhiều ảnh hưởng đến cơ năng hô hấp hay tim, cần phải rút nước gấp ra khỏi xoang màng phổi, bịnh chính cần giải quyết không phải là nước trong phổi mà là bịnh gốc gây ra triệu chứng. Chúc bịnh nhân và thính giả may mắn. Bác sĩ Hồ Văn Hiền Ngày 5 tháng 8 năm 2019 Quý vị có thể xem và nghe lại các bài giải đáp trên mạng Internet ở địa chỉ voatiengviet.com Quý vị muốn được giải đáp các thắc mắc về những vấn đề y học thường thức, xin gọi đến số (202) 205-7890, hoặc E-mail đến địa chỉ .
 
Đối với nhiều người sống với bệnh Alzheimer và các dạng bệnh sa sút trí tuệ khác, chăm sóc thú cưng là cả một thách thức. Nhưng một chú chó robot được phát triển ở bang California, Hoa Kỳ, nhắm mục tiêu thay đổi chuyện đó bằng cách mang đến sự bầu bạn và một tình yêu vô điều kiện cho những người không thể tự mình chăm sóc một con thú cưng thực thụ. Xem thêm: https://www.voatiengviet.com/a/duterte-cu-luan-toi-toi-di-toi-se-bo-tu-het/4978124.html?nocache=1
 

Nấm diệt muỗi sốt rét

Tổ chức Y tế Thế giới cho biết gần một nửa dân số thế giới có nguy cơ mắc bệnh sốt rét. Các nỗ lực phòng chống bệnh này đi theo hai hướng, hoặc chiến đấu với chính căn bệnh, hoặc chiến đấu với loài muỗi mang mầm bệnh. Các nhà nghiên cứu của Đại học Maryland đang thử nghiệm một phương pháp mới để tiêu diệt muỗi ở Burkina Faso.
 

Sau Khi Chữa Khỏi Viêm Gan C (Hepatitis C)

Thính giả Minh Phạm hỏi: “Thưa Bác sĩ, Tôi bị viêm gan C, đã được chữa khỏi, sau bảy năm thử máu không còn virút. Như vậy có thể nói là hết virút trong gan chưa? Và viêm gan C có thể trở lại không? Cảm ơn Bác sĩ.” Bác sĩ Hồ Văn Hiền trả lời:  Bịnh Viêm gan C do virus viêm gan C gây ra (HCV). HCV là một sợi RNA đơn (single stranded RNA). Trước 1992, người bị viêm gan sau khi truyền máu, hết 90% là do HCV gây ra. Sau 1992, với khả năng sàng lọc (screening) máu trước khi truyền cho người nhận, nhiễm HCV sau khi truyền máu rất hiếm ở Mỹ (chừng 2 triệu bịch máu mới có 1 cas HCV). Tuy nhiên, các biện pháp ngăn chặn HCV chỉ mới được CDC đề ra từ năm 1998; đại đa số người bị viêm gan C hiện nay là do dùng thuốc ma tuý chích (intravenous drug use), hít cocain qua mũi, xăm mình và ở mức ít hơn, qua đường tính dục vì làm tình mà không dùng biện pháp an toàn để che chở (sexual transmission by unprotected sex). Trước đây (1991-2014) thuốc chính là interferon hay pegylated interferon (chích) (peginterferon , “Pegintron”) trong nhiều tuần. Interferon kích thích các tế bào phòng thủ sản xuất kháng thể nhiều hơn. Thuốc có thể gây những biến chứng quan trọng (mắt, máu, phổi). Chừng 50% bịnh nhân được chữa khỏi HCV. Ribavirin, một chất đồng đẳng tổng hợp của guanosine (synthetic guanosine analog) là một loại thuốc kháng vi-rút mạnh được sử dụng để điều trị nhiễm viêm gan C mãn tính (dạng hít /inhalation qua miệng hay mũi cũng được dùng chữa bịnh nhiễm RSV ở trẻ em). Nói chung, ribavirin cản trở khả năng sao chép của virus HCV, tuy cơ chế như thế nào chưa được hiểu rõ. Ribavirin được Cơ quan Quản lý Thực phẩm và Dược phẩm Hoa Kỳ (FDA) phê chuẩn để điều trị viêm gan C và nằm trong Danh sách Thuốc thiết yếu của Tổ chức Y tế Thế giới. Ribavirin được bán trên thị trường dưới nhiều tên thương hiệu khác nhau, bao gồm Copegus, Rebetol, Ribasphere và RibaPak. Cho đến chừng năm 2013-2014, phối hợp pegylated interferon alpha (IFN) cộng với ribavirin (RBV) là phương pháp điều trị chuẩn cho nhiễm HCV. 24 tuần sau khi ngưng thuốc cho bịnh nhân, nếu acid nhân của HCV ( HCV-RNA) không còn được phát hiện được trong máu người bịnh, lúc đó bịnh nhân được cho là đạt tới mức "độ thanh thải bền vững của HCV lưu hành trong máu" (sustained clearance of circulating HCV), hay “sự đáp ứng bền vững về siêu vi học” (SVR, sustained virological response). Liệu pháp kết hợp này đem đến một “sự đáp ứng bền vững về siêu vi học” (SVR) ở một nửa số bệnh nhân bị nhiễm HCV genotype 1, khoảng 70% những người có HCV genotype 2 và khoảng 60% những người có HCV genotype 3; tuy nhiên, tần suất và mức độ nghiêm trọng của các tác dụng phụ (triệu chứng giống cúm, trầm cảm, giảm bạch cầu và thiếu máu (cytopenia), tan máu (hemolysis)) khiến liệu pháp này trở nên nặng nề đối với nhiều bệnh nhân. Mấy năm gần đây (sau 2014) một số thuốc uống, ( “DAA=Direct Acting Antivirals) được FDA chấp nhận dùng chữa bịnh viêm gan C, nhưng rất đắt tiền : ví dụ : Sovaldi (sofosbuvir, FDA approved 12-2013, Gilead Sciences; giá 1000 đô la một viên và tốn 84.000 đô la cho 12 tuần), Harvoni (sofosbuvir-ledipasvir); giá 94,500 dollars, trong 12 tuần (thuốc ức chế men RNA polymerase cần cho virus sinh tồn, approved for a HCV types 1,4,5,6). Do hiệu quả cao và nhanh chóng của chế độ dùng DAA, trong các thử nghiệm lâm sàng và thực hành thực tế, thử nghiệm âm tính HCV-RNA ở tuần thứ 12 sau khi ngừng điều trị được sử dụng như là dấu hiệu của sự thanh thải HCV bền vững (sustained clearance of HCV). Các chế độ điều trị không dùng IFN này mang lại tỷ lệ đáp ứng virus kéo dài ở tuần 12 (SVR12) khoảng 95%, ngay cả ở những bệnh nhân bị xơ gan. Thuốc uống; thời gian trị liệu có thể là 8 tuần cho bịnh mới chữa thuốc lần đầu; 12 tuần cho bịnh từng chữa thất bại với các thuốc trước đó, hay bịnh nhân bị xơ gan. Mặc dù HCV RNA không được phát hiện trong máu ở trạng thái SVR, các khảo cứu vẫn cho thấy HCV có thể còn tồn tại trong một số tế bào gan, hay tế bào máu của người bịnh trong khoảng 5-7 năm sau đó. Chúng ta chưa hiểu ý nghĩa của các khám phá này về lâu dài. Có nơi khuyên thử HCV RNA lại một thời gian sau khi trạng thái SVR đã được xác định bằng thử nghiệm (vd:theo Mariantonietta Pisaturo, sau 72 tuần)(1) . Đó là về mặt lý thuyết, người ta ước tính, sau một năm, chỉ có chừng 1-2 trong 1000 bịnh nhân bị tái phát trễ (late relapse), cho nên trên thực tế người ta không khuyên phải thử lại để theo dõi.(2) Phác đồ điều trị của Hội Chuyên về nghiên cứu Bịnh Gan của Mỹ (The American Association for the Study of Liver Diseases (AASLD)) khuyến cáo: "Với sự ra đời của các chế độ kháng vi-rút HCV hiệu quả cao, khả năng đạt được SVR vượt quá 95% ở những bệnh nhân tuân thủ điều trị, có khả năng miễn dịch bình thường, không suy gan. Trong số những bệnh nhân đạt được SVR sau khi điều trị bằng peginterferon / ribavirin, hơn 99% vẫn không bị nhiễm HCV khi theo dõi trong 5 năm sau khi kết thúc điều trị (Manns, 2013). Do đó, đạt được mức SVR (“sự đáp ứng bền vững về siêu vi học”) được coi là đã chữa khỏi virus HCV (virologic cure).(3) SVR thường chặn đứng tiến triển của tổn thương gan kèm theo sự phục hồi xơ hóa gan ở hầu hết, nhưng không phải tất cả, bệnh nhân được điều trị . Do bịnh không tiến triển thêm nữa, bệnh nhân không bị xơ gan tiến triển đạt được SVR nên được chăm sóc y tế theo tiêu chuẩn được khuyến nghị cho bệnh nhân chưa từng bị nhiễm HCV. (For patients who do not have advanced fibrosis, recommended follow-up is the same as if they were never infected with HCV.) Những bịnh nhân vẫn còn phơi nhiễm với HCV (ví dụ tiếp xúc qua hoạt động tình dục): “Bệnh nhân đạt được SVR có thể được tái nhiễm HCV nếu họ tiếp xúc lại với virus. Nên thử nghiệm hàng năm về tái nhiễm HCV ở những bệnh nhân có nguy cơ nhiễm HCV liên tục (ví dụ, sử dụng thuốc tiêm hoặc phơi nhiễm tình dục có nguy cơ cao). Nếu mức men gan bùng phát nên nhanh chóng đánh giá tái nhiễm HCV. Kháng thể HCV (chống HCV) vẫn dương tính ở hầu hết bệnh nhân sau điều trị SVR. Do đó, cần xét nghiệm tái nhiễm HCV bằng xét nghiệm phát hiện HCV RNA (nghĩa là xét nghiệm HCV-RNA định lượng).” Những bịnh nhân đã bị xơ gan nặng, suy gan hay có những vấn đề khác, bác sĩ cần có những biện pháp phòng ngừa thêm để tránh lây bịnh thêm lần nữa, hay tránh hoặc giảm thiểu các biến chứng như ung thư gan. Bác sĩ cũng nhắc nhở bịnh nhân chích ngừa viêm gan A và B nếu chưa chích trước khi nhận trị liệu cho bịnh HCV. Chúc bịnh nhân may mắn. Bác sĩ Hồ Văn Hiền Ngày 12 tháng 6 năm 2019 References: 1) https://www.medscape.com/viewarticle/912573_1 2)Management of Patients Who Have Achieved Sustained Virologic Response for Hepatitis C Virus Infection https://www.ncbi.nlm.nih.gov/pmc/articles/PMC6034612/ 3)The American Association for the Study of Liver Diseases (AASLD).Monitoring Patients Who Are Starting HCV Treatment, Are on Treatment, or Have Completed Therapy https://www.hcvguidelines.org/evaluate/monitoring Quý vị có thể xem và nghe lại các bài giải đáp trên mạng Internet ở địa chỉ voatiengviet.com Quý vị muốn được giải đáp các thắc mắc về những vấn đề y học thường thức, xin gọi đến số (202) 205-7890, hoặc E-mail đến địa chỉ .
 
Vào năm 2000, Magnus Liljedahl nhận được huy chương vàng Olympic về đua thuyền buồm – cả đời ông yêu môn thể thao này và tình yêu đó đã đơm hoa kết trái. Nhưng sau khi kết thúc sự nghiệp thể thao chuyên nghiệp, ông vẫn không bao giờ từ bỏ môn này – và ngày nay, ông đang giới thiệu môn thể thao trị liệu đến với những người trẻ gặp khó khăn, các cựu chiến binh và những người khuyết tật.
 
Thính giả Trương Văn Tánh hỏi: “Thưa Bác sĩ, Tôi 19 tuổi, đang làm hồ sơ xin việc làm. Hồ sơ có giấy khám sức khoẻ. Tôi đang điều trị HIV được gần 5 tháng rồi. Vậy xin hỏi khi tôi đi xét nghiệm máu, có bị phát hiện ra là tôi đang nhiễm HIV không ạ? Cảm ơn Bác sĩ.” Bác sĩ Hồ Văn Hiền trả lời:  Tại Mỹ, chiều hướng mới là screen tất cả bệnh nhân để phát hiện trường hợp nhiễm HIV trong tất cả các cơ sở chăm sóc sức khỏe. Năm 2006, Trung tâm kiểm soát dịch bệnh Hoa Kỳ CDC công bố một sáng kiến về xét nghiệm tự nguyện,"routine" cho tất cả người Mỹ ở độ tuổi 13-64 trong các cuộc gặp gỡ về chăm sóc sức khỏe ("khám bịnh, khám răng"). Theo ước tính, 25% số người nhiễm HIV không biết về tình trạng HIV của họ; nếu thành công, nỗ lực này dự kiến sẽ giảm 30% nhiễm trùng mới mỗi năm. Hiện nay, tiểu bang New York là tiểu bang đầu tiên bắt buộc bịnh viện và bác sĩ phải thử HIV cho mọi bịnh nhân từ 13-65 tuổi.(Wikipedia) Một bịnh nhân bị nhiễm siêu vi HIV, ví dụ do dùng một kim chích bị dơ, có chứa các siêu vi này. Siêu vi sẽ vào máu người đó và có một khoảng thời gian gọi là "giai đoạn cửa sổ" (window period) trong lúc đó, cơ thể người đó chưa sản xuất kịp được những kháng thể (antibodies) chống lại các siêu vi đó. Những phương tiện screening test của chúng ta hiện nay phần lớn căn cứ trên sự phát hiện các kháng thể này: ví dụ nếu thử máu thấy có kháng thể chống HIV, thì chúng ta biết là người đó nhiễm HIV. Nếu screen test không phát hiện được kháng thể chống HIV trong máu người bịnh thì có 2 khả năng khác nhau: 1) Hoặc người bịnh không , và chưa bao giờ nhiễm HIV 2) Hoặc virus đang nhiễm cơ thể người bịnh, nhưng quá sớm để chúng ta phát hiện virus; người bịnh đang ở trong "window period", trước khi các kháng thể chống HIV có thể được tìm thấy. Đối với bịnh HIV, thời gian "cửa sổ" dài chừng 22 ngày. Có những biện pháp cố gắng thu hẹp cửa sổ này lại. Ví dụ như đối với HIV, người ta dùng thử nghiệm gọi là "phóng đại acid nhân" (Nucleic Acid Amplification, NAA) từ năm 1999 ở Mỹ cho mọi người hiến máu hoặc huyết thanh (blood and plasma donation). NAA là một phương pháp truy tầm các acid nhân (nucleic acid, vd RNA) của virus hay vi khuẩn, và từ đó chứng minh sự hiện diện của virus hay vi khuẩn trong máu người bịnh (ví dụ PCR=Polymerase Chain Reaction). Thời gian cửa sổ, do đó, có thể giảm xuống còn 13-15 ngày cho HIV Xét nghiệm HIV và AIDS Các xét nghiệm chính để chẩn đoán HIV và AID bao gồm: 1) Xét nghiệm ELISA - ELISA, viết tắt của enzyme-linked immunosorbent assay(xét nghiệm hấp thụ miễn dịch kết nối với enzyme), được sử dụng để phát hiện nhiễm HIV. Vì xét nghiệm này rất nhạy bén, sẽ có những trường hợp dương tính sai (false positive), nên nếu phản ứng dương, cần thực hiện thêm một xét nghiệm nữa để xác nhận, lúc đó thì độ chính xác cao hơn nhiều. Nếu xét nghiệm ELISA dương tính, xét nghiệm Western blot được thực hiện để xác nhận chẩn đoán. 2) Western Blot : xét nghiệm máu được sử dụng để xác nhận kết quả xét nghiệm ELISA dương tính. Các xét nghiệm ELISA và Western Blot căn cứ trên sự hiện diện của các kháng thể mà cơ thể người bịnh sản xuất ra và hiện diện trong máu sau khi cơ thể bị siêu vi HIV xâm nhập, nhưng vì kháng thể không được tạo ra ngay sau khi nhiễm bệnh, xét nghiệm có thể âm tính trong một vài tuần đến vài tháng sau khi bị nhiễm bệnh. Mặc dù kết quả xét nghiệm có thể âm tính trong thời gian "cửa sổ" này, mức độ virus có thể cao và có nguy cơ truyền nhiễm. Gần đây (2014), CDC đưa ra một khuyến cáo về một phát đồ mới, hay “xét nghiệm thế hệ thứ tư” (fourth generation test) thay thế cho phát đồ HIV 1-Western blot, để định bịnh nhiễm HIV chính xác hơn, sớm hơn (3 tuần), nhận diện virus HIV-2 (không gặp ở Mỹ, thường ở Châu Phi), và kết quả nhanh hơn. Phác đồ mới này phát hiện kháng nguyên HIV-1 p24 và kháng thể của HIV-1 và HIV-2 (combination immunoassay that detects HIV-1 and HIV-2 antibodies and HIV-1 p24 antigen). 3) Thử nghiệm tại nhà - Thử nghiệm tại nhà duy nhất được Cục Quản lý Thực phẩm và Dược phẩm Hoa Kỳ (FDA) phê duyệt được gọi là Home Access Express Test (Xét nghiệm Truy cập Nhanh tại nhà), được bán tại các hiệu thuốc. 4) Xét nghiệm nước bọt - Một miếng bông gòn được sử dụng để lấy nước bọt từ bên trong má của bạn, được đặt trong lọ và gửi đến phòng thí nghiệm để thử nghiệm. Kết quả có được sau ba ngày. Kết quả dương tính cần được xác nhận bằng xét nghiệm máu. 5) Xét nghiệm tải lượng virus (viral load) - Xét nghiệm này đo lượng HIV trong máu. Nói chung, nó được sử dụng để theo dõi tiến trình điều trị hoặc phát hiện sớm nhiễm HIV. Ba công nghệ đo tải lượng virus HIV trong máu: phản ứng chuỗi polymerase sao chép ngược (RT-PCR), DNA phân nhánh (bDNA) và xét nghiệm khuếch đại dựa trên chuỗi axit nucleic (NASBA/Nucleic acid sequence based amplification). Các nguyên tắc cơ bản của các xét nghiệm này là tương tự nhau. HIV được phát hiện bằng cách sử dụng trình tự DNA (DNA sequences) liên kết đặc biệt với những trình tự trong virus. Điều quan trọng cần lưu ý là kết quả có thể khác nhau giữa các xét nghiệm. Các xét nghiệm tải lượng virus khác nhau thường đếm ngược đến 50 bản và đôi khi 20, nhưng không thấp hơn. Vd: Nếu kết quả viral load là : HIV1 RNA, PCR (or bDNA) “not detected” hay “undetectable” ( không phát hiện ra được), có nghĩa là HIV-1 ở mức cực kỳ thấp, kết quả rất tốt. Mặt khác, nếu có một số lượng tải lượng virus, thì đó là số lượng bản sao HIV mà xét nghiệm được tính trong giọt máu đó. Nói tóm lại: 1) Virus HIV (HIV RNA) “không thể phát hiện” được không có nghĩa là đã được chữa khỏi. Ngay cả với tải lượng virus “không thể phát hiện” , người nhiễm HIV vẫn dương tính với HIV. Đó là lý do tại sao đối với người nhiễm HIV điều quan trọng là tiếp tục dùng thuốc điều trị HIV ngay cả khi không thể phát hiện ra virus..   2) Bịnh nhân vẫn sẽ xét nghiệm dương tính với HIV dù được chữa trị đến mức không còn phát hiện được RNA của virus trong máu của họ. Các xét nghiệm truy tầm bịnh nhiễm HIV căn cứ trên sự hiện diện các kháng thể, là một thành phần của phản ứng của hệ thống miễn dịch của bịnh nhân đối với virus HIV, có nghĩa là bịnh nhân sẽ xét nghiệm dương tính với HIV ngay cả khi tải lượng virus ở mức không phát hiện được. Chúc bịnh nhân may mắn. References: 1)https://en.wikipedia.org/wiki/Diagnosis_of_HIV/AIDS 2)New HIV Testing Algorithm: A Promising Tool in the Fight Against HIV https://www.medscape.com/viewarticle/840724 Bác sĩ Hồ Văn Hiền Ngày 31 tháng 5, 2019   Quý vị có thể xem và nghe lại các bài giải đáp trên mạng Internet ở địa chỉ voatiengviet.com Quý vị muốn được giải đáp các thắc mắc về những vấn đề y học thường thức, xin gọi đến số (202) 205-7890, hoặc E-mail đến địa chỉ .
 

Viêm gan virus B

Thính giả Thu Bình hỏi: “Kính thưa Bác sĩ, Hôm nay cháu có bị máu của người nhiễm viêm gan B bắn vào tay, không biết là cháu có nguy cơ lây bệnh không ạ. Cháu có tiêm vacxin phòng viêm gan B được 2 mũi. Mũi thứ 2 tiêm cách đây hơn 2 tháng. Rất mong nhận được sự giải đáp sớm của Bác sĩ Cháu xin chân thành cảm ơn.​” Bác sĩ Hồ Văn Hiền trả lời:  Viêm gan virus B (hepatitis B virus, HBV) được truyền từ người này qua người khác bằng nhiều cách khác nhau. Nói tổng quát HBV truyền qua đường máu và những chất dịch (body fluids) khác từ người đang bị nhiễm qua người không có miễn nhiễm đối với HBV. Miễn nhiễm này có thể có được a) qua một lần nhiễm HBV trong quá khứ b) hoặc do chủng ngừa. Chi tiết hơn, sau đây là những ngả nhiễm HBV khác nhau: HBV được tìm thấy ở mức độ có thể truyền qua người khác trong các dịch của cơ thể như tinh dịch, dịch tiết âm đạo, nước bọt và máu. HBV cũng đã được tìm thấy ở nồng độ thấp trong các chất dịch khác, mặc dù các chất lỏng này KHÔNG thấy liên quan đến việc truyền bịnh: nước mắt; nước tiểu; phân; sữa mẹ; dịch não tủy. Viêm gan B không lây lan qua thực phẩm hoặc nước hoặc do tiếp xúc thông thường. Các hoàn cảnh có thể truyền bịnh: 1) Làm tình với một người nhiễm HBV 2) Dùng kim chích, ống chích (syringe), dụng cụ pha thuốc men chung chạ với người nhiễm HBV. Thường xảy ra với những người dùng xì ke, ma tuý. Tuy nhiên, nếu nhân viên y tế không khử trùng đúng cách các ống chích, dùng lại các kim chích (ví dụ chỉ lấy cồn chùi kim rồi dùng lại), người bịnh cũng có khả năng bị nhiễm trùng. 3) Mẹ nhiễm HBV, trẻ sơ sinh có thể nhiễm HBV do tiếp xúc với máu và chất tiết của người mẹ lúc sinh ra. Đa số trẻ em nhiễm lúc mới sinh sẽ không có đủ sức đề kháng để thanh toán HBV và bịnh sẽ trở thành viêm gan siêu vi B mạn tính (kinh niên, chronic hepatitis B) Hiện nay đại đa số trường hợp nhiễm viêm gan HBV từ người mẹ qua trẻ sơ sinh đều có thể ngừa được bằng cách chích ngừa cho em bé ngay lúc mới sinh ra ((trong vòng 12 giờ đồng hồ) một mũi chích là kháng thể chống HBV (HBV Immunoglobulin) để thiết lập sức đề kháng chống HBV ngay cho cơ thể em bé (miễn nhiễm thụ động, passive immunization), một mũi thứ hai là vắc xin HBV (HBV vaccine) để kích thích hệ miễn nhiễm của em bé sản xuất ra kháng thể của chính nó (active immunization). 4) Bị kim chích , dao, vật bén cắt (ví dụ bác sĩ chích thuốc cho bịnh nhân, lỡ tay kim chích vấy máu người bịnh bị nhiễm và chích vào tay bác sĩ). 5) Dùng chung dao, vật nhọn với người nhiễm HBV. Đáng nhắc nhở ở đây là một bài báo tôi đọc cách đây không lâu về những người xỏ khuyên tai, mũi, môi, bụng, cũng như bộ phận sinh dục lưu động, ngay ở trước các trường học ở Việt nam. Đây có thể là những ổ HBV lưu động có thể truyền HBV cùng những tác nhân gây bịnh khác như HIV, HCV, herpes trong giới trẻ ngây thơ và khờ khạo ( có thể nghĩ rằng HBV, HIV chỉ lây qua đường sex), nếu không áp dụng phương thức khử trùng thích hợp và biện pháp bảo vệ người cung cấp dịch vụ cũng như khách hàng. Mặc dù xăm mình và xỏ lỗ trên cơ thể không được coi là một phương thức lây truyền đáng kể đối với HBV, nhưng xăm mình và xỏ lỗ trên cơ thể có khả năng truyền nhiễm trùng máu, bao gồm HBV, virus viêm gan C (HCV) và virus gây suy giảm miễn dịch ở người (HIV), nếu người thực hiện các hình xăm hoặc xỏ lỗ trên cơ thể không sử dụng các biện pháp kiểm soát nhiễm trùng tốt. Trung tâm kiểm soát và phòng ngừa dịch bệnh (CDC) khuyến nghị rằng các dụng cụ hoặc vật liệu (bao gồm mực), nhằm mục đích thâm nhập vào da nên được sử dụng một lần, sau đó xử lý hoặc làm sạch và khử trùng triệt để giữa các khách hàng. Nhân viên dịch vụ cá nhân thực hiện xăm mình hoặc xỏ lỗ trên cơ thể nên được giáo dục về việc truyền mầm bệnh qua đường máu và những biện pháp phòng ngừa nào là cần thiết để ngăn ngừa lây truyền. Những người đang cân nhắc việc xăm mình hoặc xỏ một phần cơ thể nên hỏi nhân viên tại cơ sở những quy trình họ sử dụng để ngăn ngừa sự lây lan của nhiễm trùng máu. Họ cũng có thể gọi cho sở y tế địa phương để tìm hiểu các quy trình khử trùng được yêu cầu bởi luật pháp hoặc pháp lệnh đối với các cơ sở xăm mình và xỏ lỗ trên cơ thể.(theo immunize.org) Nói chung HBV có thể còn khả năng nhiễm bịnh 7 ngày sau khi ra khỏi cơ thể chúng ta (ví dụ vết máu, vết mủ, chất tiết trong quần lót). Nói chung thức ăn uống, dùng chén đũa chung, ôm hôn (sơ sài), nắm tay, hắt hơi, ho không gây truyền nhiễm HBV. 6)Khả năng viêm gan B cấp tính sẽ trở thành mãn tính? Khả năng viêm gan B sẽ phát triển từ nhiễm trùng cấp tính thành nhiễm trùng mạn tính tùy thuộc vào độ tuổi của người mắc bệnh. Một người càng trẻ tuổi khi bị nhiễm vi rút viêm gan B, khả năng bị nhiễm trùng mãn tính càng cao. Khoảng 90% trẻ sơ sinh bị nhiễm bệnh sẽ bị nhiễm trùng mãn tính. Nguy cơ giảm xuống khi một đứa trẻ lớn lên. Khoảng 25% 50% trẻ em trong độ tuổi từ 1 đến 5 tuổi nếu bị nhiễm HBV sẽ bị viêm gan mạn tính B. Ngược lại, khoảng 95% người lớn hồi phục hoàn toàn và không bị nhiễm trùng HBV mãn tính. 7) Nhân viên y tế đã được chủng ngừa viêm gan B và đã phát triển khả năng miễn dịch với virus hầu như không có nguy cơ nhiễm trùng. Đối với một người chưa miễn nhiễm với HBV, nguy cơ từ một vết đâm kim hoặc vết cắt có tiếp xúc với máu bị nhiễm HBV dao động từ 6-30% và tùy thuộc vào tình trạng kháng nguyên HBe (HBeAg) của người mang nguồn bịnh. Trong số người có kháng nguyên bề mặt viêm gan B (HBsAg positive), những người có HBeAg dương tính có nhiều virus trong máu và có nhiều khả năng truyền HBV hơn những người có HBeAg âm tính. Phơi nhiễm qua màng nhầy (mucosa) hoặc da không nguyên vẹn (bị trầy, loét), có nguy cơ nhiễm HBV. Tuy nhiên, nếu khi tiếp xúc với máu có HBV da của người bị phơi nhiễm vẫn còn nguyên vẹn, lành lặn, cho đến nay chúng ta chưa thấy có mối nguy nào để lây bịnh HBV. 8) Lịch trình vắc-xin viêm gan B Tiêm vắc-xin chính bằng Engerix-B (GSK), Recombivax HB (Merck) hoặc Twinrix bao gồm ba liều tiêm bắp (IM) được tiêm theo lịch 0-, 1- và 6 tháng. Hiện nay, thông thường người ta khuyến cáo chích 3 liều vaccin viêm gan B; riêng đối với người chỉ mới chích 2 liều như vị thính giả ở đây, mức che chở đối với HBV cũng đã rất cao, nhất là ở người trẻ tuổi. Heplisav-B được tiêm bắp theo lịch 2 liều với liều cách nhau 1 tháng (thuốc được FDA chấp thuận dùng cho người 18 tuổi trở lên, vá có chứa chất adjuvant kích thích cơ thể sản xuất kháng thể chống kháng nguyên HBSAg của virus HBV). Các lịch tiêm chủng thay thế khác cho Engerix-B và Recombivax HB (ví dụ: 0, 1 và 4 tháng hoặc 0, 2 và 4 tháng) đã được chứng minh có khả năng gây sản xuất kháng thể bảo vệ sau mỗi liều và sau loạt chích ngừa tương tự như lịch trình 0-1-6 tháng. Tăng khoảng cách giữa 2 liều đầu tiên ít ảnh hưởng đến khả năng miễn dịch hoặc nồng độ kháng thể cuối cùng. Liều thứ 3 tạo nên mức độ bảo vệ của huyết thanh tối đa và bảo vệ về lâu dài. Recombivax HB có thể được dùng theo lịch 2 liều lúc 0 và 4- tháng cho thanh thiếu niên từ 11 đến 15 tuổi sử dụng công thức dành cho người lớn (1.0 mL). Pediarix (ngừa viêm gan B, kết hợp với thuốc ngừa Bạch hầu, ho gà, uốn ván và thuốc ngừa bại liệt /IPV) ở tuổi 2, 4 và 6 tháng; không được sử dụng cho liều lúc mới sinh. Twinrix kết hợp ngừa HBV và HAV (viêm gan A) cho 18 tuổi trở lên; được chích theo lịch 3 liều (1ml) 0, 1 tháng và 6 tháng; có thể được dùng theo lịch tăng tốc (accelerated dosing) gồm 4 liều: vào 0, 7 và 21-30 ngày, sau cần thêm một liều lúc 12 tháng. Tiêm vắc-xin viêm gan B cho bệnh nhân chạy thận nhân tạo ở người trưởng thành (từ 20 tuổi trở lên) bao gồm Recombivax HB liều cao (40 tuổi) được tiêm theo lịch 0-, 1- và 6 tháng hoặc liều cao (2mL) chích theo lịch trình 0-, 1-, 2- và 6 tháng. Lịch trình Heplisav-B cho bệnh nhân chạy thận nhân tạo là hai liều 0,5 ml, cách nhau 1 tháng. Nói chung, chừng 5-10% những người được chích ngừa HBV không sản xuất đủ kháng thể chống HBV ở mức độ che chở và phải chích thuốc ngừa lại. 8) Ngay lập tức sau khi tiếp xúc/phơi nhiễm với máu: Rửa vết thương bị kim chích và vết cắt bằng xà phòng và nước Xả nước vào mũi, miệng hoặc da bằng nước thường Tưới mắt bằng nước sạch, nước muối hoặc nước tưới vô trùng Không có bằng chứng khoa học nào cho thấy sử dụng thuốc sát trùng hoặc nặn, bóp vết thương sẽ giảm nguy cơ truyền mầm bệnh qua đường máu. Không nên sử dụng chất ăn da như thuốc tẩy (bleach).(Theo CDC) Reference: 1)Exposure to blood: What health personnel need to know. https://www.cdc.gov/hai/pdfs/bbp/exp_to_blood.pdf 2)http://www.ashasexualhealth.org/stdsstis/hepatitis/hepatitis-b/ Chúc bịnh nhân may mắn Bác sĩ Hồ Văn Hiền Ngày 29 tháng 5 năm 2019 Quý vị có thể xem và nghe lại các bài giải đáp trên mạng Internet ở địa chỉ voatiengviet.com Quý vị muốn được giải đáp các thắc mắc về những vấn đề y học thường thức, xin gọi đến số (202) 205-7890, hoặc E-mail đến địa chỉ .
 
Thuốc lá giết chết 8 triệu người mỗi năm, theo khuyến cáo của Tổ chức Y tế Thế giới hôm 29/5 trước Ngày Thế giới Không Thuốc lá 31/5.
 
Thính giả Anh Vy hỏi: “Thưa Bác sĩ, Tôi vừa đọc bài viết của Bác sĩ về bệnh ALS và MND. Tôi cũng là bệnh nhân của căn bệnh đó,  nên muốn xin hỏi Bác sĩ là có mấy dạng tiến triển của bệnh ạ? Và đường đi thường xuyên nhất của căn bệnh này ạ? Cám ơn Bác sĩ nhiều ạ." Bác sĩ Hồ Văn Hiền trả lời:  Cũng như mọi khi tôi xin nói rõ trước là những nhận xét sau đây chỉ có tính cách thông tin tổng quát, không áp dụng cho cá nhân và không có mục đích giúp thính giả tìm cách tự chữa bịnh. Bịnh "Xơ cứng cột bên teo cơ", thuật ngữ này dịch tên tiếng Anh là “Amyotrophic lateral sclerosis “(ALS), tiếng Pháp là la sclérose latérale amyotrophique. Tóm tắt, đây là một bịnh gây liệt các cơ do các tế bào thần kinh vận động (motor neuron) phụ trách điều khiển các cơ này nằm trong não bộ và tủy sống bị thoái hoá, hư hại. Chúng ta phân tích từ này để hiểu bịnh hơn: amyotrophic: a= không có myo=cơ bắp, bắp thịt; trophy nuôi dưỡng; các cơ không được nuôi dưỡng tử tế, nên bị teo lại, nói ngắn là "teo cơ". Bình thường các cơ bắp được nối liền với dây thần kinh vận động đi từ các nơ-ron (neuron, tế bào thần kinh) vận động trong sừng trước của tủy sống; các tế bào này lại liên kết với nơ-ron võ vận động (motor cortex neuron) trên não bộ qua một bó dây thần kinh (tương tự như một bó dây điện), bó này gọi là “đường vỏ não-tuỷ sống bên” (lateral corticospinal tract), có nghĩa là nằm một bên , khác với đường trước và đường sau. sclerosis= tình trạng xơ ALS có thể được chia ra căn cứ các hình thức bịnh lý khác nhau. Thông thường nhất, phân loại dựa trên nguyên nhân cơ bản của bệnh, “sporadic ALS” ( lẻ tẻ) hoặc familial ALS (theo gia đình). ALS cũng có thể được phân loại theo khởi phát lâm sàng hoặc tiến triển của bệnh. Phân loại theo nguyên nhân: a) ALS lẻ tẻ (sporadic ALS) ALS lẻ tẻ là dạng ALS phổ biến nhất, chiếm khoảng 90% đến 95% các trường hợp ở Mỹ, trong gia đình không có ai khác mắc bịnh. Có thể một số yếu tố di truyền có thể làm tăng nhẹ nguy cơ phát triển ALS lẻ tẻ, nhưng không trực tiếp gây ra bệnh. b) ALS gia đình Bịnh có tính cách gia đình, hoặc di truyền (hereditary), với nhiều trường hợp bịnh ALS xảy ra trong một gia đình; chiếm khoảng 5% đến 10% các trường hợp. Có thể được gây ra bởi một trong số đột biến di thể (trên các nhiễm thể) được truyền từ cha mẹ sang con cái theo gen trội nằm trên nhiễm thể autosome (autosomal dominant), không phải nhiễm thể tính dục (không phải chromosome X hay Y). Điều này có nghĩa là nếu cha hay mẹ có ALS loại gia đình, nguy cơ bịnh này truyền qua mỗi đứa con là 50%. Một số đột biến gen đã được xác định và liên kết với ALS gia đình, và có thể còn những đột biến khác vẫn chưa phát hiện. Lỗi phổ biến nhất, liên quan đến 25%- 40% các trường hợp ALS gia đình, là ở một gen có tên C9ORF72. Những lỗi trên gen này cũng liên quan đến chứng "lẫn trán-thái dương" (FTD/frontotemporal dementia); bịnh lẫn, mất trí nhớ do những tổn thương trên thuỳ não trán và thái dương. Những người có đột biến gen này có thể phát triển cả hai bệnh cùng một lúc, được gọi là ALS-FTD. Một dạng ALS gia đình khác là "phức hợp 1 gồm ALS-bịnh Parkinson và bịnh lẫn" ( ALS-parkinsonism-dementia complex 1"[ALS-PDC]) hay bịnh Lytico-bodig, trong đó bệnh nhân có triệu chứng của cả 3 bịnh này. Hình thức này thường gặp nhiều nhất ở Nhật Bản và đảo Guam. Các gen khác được biết có liên quan đến ALS loại gia đình bao gồm superoxide effutase 1 (SOD1), TARDBP, FUS và ubiquilin 2 (UBQLN2).Các nhà sản xuất thuốc đang thử nghiệm lâm sàng những chất dược học có thể tác dụng trên cơ chế gen, ví dụ chất Tofersen của Biogen có thể làm giảm chất độc "SOD1 protein" hiện diện trong loại ALS SOD1. Phân loại theo cách khởi phát trên lâm sàng a) ALS tuỷ sống (spinal ALS) Khoảng 2/3 bệnh nhân ALS có dạng khởi phát ở tuỷ sống. Các triệu chứng ban đầu của hình thức này bao gồm yếu cơ hoặc teo cơ ở cánh tay và cẳng chân, và các sợi cơ bắp co thắt ngoài ý muốn dẫn đến chứng giật cơ. Bệnh nhân mắc ALS dạng tuỷ sống có xu hướng tiến triển đến tê liệt hoặc tử vong trong vòng 3 đến 5 năm. Chừng 10% bịnh nhân ALS sống lâu quá 10 năm sau khi phát hiện ALS. Hình thức này đôi khi cũng được gọi là ALS Charcot cổ điển (classical Charcot ALS, Charcot’s disease). (Trong lịch sử y khoa, qua bệnh xơ cứng cột bên teo cơ, bác sĩ thần kinh người Pháp Jean-Martin Charcot (1825-1893) chứng minh được sự liên quan giữa các triệu chứng thần kinh đặc thù với các tổn thương chất xám và chất trắng tại các vị trí cụ thể trong hệ thống thần kinh trung ương. Charcot gọi đây là “phương pháp giải phẫu-lâm sàng” ( "méthode anatomoclinique"). Sử dụng các trường hợp lâm sàng và khám nghiệm tử thi, ông đã chỉ chứng minh các tổn thương giải phẫu (cơ thể học, anatomic) trong hệ thống thần kinh có thể được xác định chính xác bằng cách phân tích các dấu hiệu lâm sàng. Công trình của Charcot về bệnh ALS tập hợp về một mối các bịnh trước đây được coi là những bịnh khác nhau, một bên là bịnh các cơ, teo cơ nguyên phát (primary amyotrophy) và một bên là bịnh của hệ thần kinh, xơ cứng cột bên nguyên phát (primary lateral sclerosis). Ngoài ra, những nghiên cứu này đã góp phần vào sự hiểu biết về giải phẫu tủy sống và thân não và tổ chức của hệ thống thần kinh bình thường. Do những đóng góp cơ bản của Charcot, biệt danh "Bệnh Charcot" đã được sử dụng trên phạm vi quốc tế liên quan đến bệnh xơ cứng cột bên teo cơ. (Theo CG Goetz, Muscle Nerve. 2000 Mar;23(3):336-43.) b) Dạng hành tuỷ (Bulbar ALS) Bulbar= thuộc về hành tuỷ; bulb, nay gọi là medulla oblongata, hình nón cụt nằm giữa cầu não phía trên và tuỷ sống bên dưới, phía trước của tiểu não; chứa những nhóm tế bào thần kinh quan trọng, xử lý những chức năng chính yếu như sự hô hấp, tuần hoàn (nhịp tim, áp huyết), kiểm soát các cơ năng tự động (ngoài ý muốn) như nhảy mũi, ói mửa. Ở dạng hành tuỷ của ALS, các cơ liên quan đến nói, nuốt và thở nói chung là những cơ đầu tiên bị ảnh hưởng. Các triệu chứng ban đầu bao gồm nói ngọng và khó nuốt. Tuy nhiên, yếu cơ có thể nhanh chóng tiến đến cánh tay và đùi, cẳng chân, gây khó khăn cho việc phân biệt giữa ALS tuỷ sống và hành tủy. ALS hành tuỷ hơi phổ biến hơn ở phụ nữ và những người trên 70 tuổi; bệnh nhân có thể bị tê liệt sau một đến hai năm. c) Các hình thức khác của ALS Một dạng bệnh khác được gọi là Guamanian ALS và đặc biệt phổ biến ở người dân đảo Guam và một số đảo ở Tây Thái Bình Dương (Micronesia). Nguyên nhân chính xác của hình thức này không được biết. d) Hai dạng ALS hiếm khác: 1) ALS ở người vị thành niên (juvenile ALS), một dạng cực kỳ hiếm, đúng như tên gọi của nó, ảnh hưởng đến trẻ em, thanh thiếu niên và thanh niên dưới 25 tuổi. Một trường hợp nổi tiếng, ALS xảy ra sớm, lúc còn rất trẻ (thay vì ở tuổi trung niên) và tiến triển rất chậm: Stephen Hawking (1942-2018), nhà vật lý lý thuyết, giáo sư toán học, dạy học viết sách không ngừng nghĩ. Toàn thân, tay chân hoàn toàn tê liệt và ông viết và nói qua máy computer mà ông điều khiển bằng cơ trên má của ông. Hawking mắc chứng này rất sớm, lúc 21 tuổi (1963), và nhờ dạng ALS này tiến triển rất chậm so với các trường hợp khác, trên 50 năm sau, ông vẫn còn sống với trí óc minh mẫn, vẫn mơ đi du lịch trong vũ trụ, là một trong những bộ óc vĩ đại nhất trong thế giới. 2) Loại kia là “ primary lateral sclerosis” ( PLS, xơ cứng cột bên nguyên phát). PLS cũng là một bịnh của nơ- ron vận động như ALS nhưng tiến triển chậm hơn rất nhiều (trung bình 20 năm) và phần đông không gây tử vong. Loại PLS người lớn không phải do di truyền. Loại PLS người trẻ (juvenile PLS ) do đột biến gen ALS2 phụ trách sản xuất protein aslin của tế bào thần kinh làm cho protein này bất ổn, hoạt động bất bình thường; gen ALS2 di truyền theo lối autosomal recessive, có nghĩa là phải cả hai người cha lẫn mẹ mang có di thể này (carrier) thì con mới mang bịnh (cơ nguy 50%). “Đường đi thường xuyên nhất của căn bệnh” Khởi đầu ALS có thể rất tinh vi đến nỗi các triệu chứng không được bác sĩ nhận ra nhưng dần dần các triệu chứng này phát triển thành chứng cơ yếu hoặc teo rõ ràng hơn, khiến bác sĩ nghi ngờ ALS. Một số triệu chứng ban đầu bao gồm: co giật cơ (fasciculation) ở cánh tay, chân, vai hoặc lưỡi "chuột rút" cơ bắp (muscle cramps) cơ bắp căng và cứng (tight and stiff muscles) (co cứng) yếu cơ ảnh hưởng đến một cánh tay, chân, cổ hoặc cơ hoành (diaphragm). nói đớt và nói giọng mũi khó nhai hoặc nuốt. Dấu hiệu đầu tiên có thể là khó khăn cài nút áo, cầm viết hay vặn chìa khoá, cũng có thể là một chân không vững và người bịnh dễ té ngã hay dễ bị vấp. Người có ALS dạng hành tuỷ có thể bắt đầu bằng thay đổi trong giọng nói, phát âm, nuốt khó khăn vì những tế bào vận động phụ trách các cơ liên hệ nằm trong vùng hành tủy (medulla oblongata), phía trên tuỷ sống. Dù bắt đầu ở đâu, các triệu chứng sẽ lan truyền qua các vùng khác, cho đến lúc bịnh nhân không đi đứng được nữa, không lên xuống giường được và không còn sử dụng cánh tay, bàn tay. Họ có thể suy dinh dưỡng do nuốt khó, ăn vào thì ít, mà cơ thể họ lại dùng năng lượng nhiều hơn người không mắc bịnh. Người mắc ALS thường duy trì các khả năng cao hơn như lý luận, ghi nhớ, hiểu và giải quyết vấn đề, họ nhận thức được sự mất dần dần của chức năng và có thể trở nên lo lắng và trầm cảm. Tuy nhiên một số nhỏ có thể gặp khó khăn dùng ngôn ngữ hoặc khả năng quyết định, và ngày càng có nhiều bằng chứng cho thấy một số thậm chí có thể phát triển một dạng bịnh lẫn, (mất trí nhớ) theo thời gian. Những người mắc ALS sẽ khó thở khi các cơ của hệ hô hấp suy yếu. Cuối cùng họ mất khả năng tự thở và phải phụ thuộc vào máy thở. Nguy cơ viêm phổi trong giai đoạn sau của bệnh. “Chuột rút” cơ bắp có thể làm khổ sở, một số người mắc ALS có thể bị đau dây thần kinh. Vì đây là một bịnh nghiêm trọng, phần định bịnh rất quan trọng, có khi cần ý kiến nhiều người, nhiều nơi để định bịnh chính xác, không nhầm lẫn với những bịnh khác có thể có những triệu chứng tương tự, và do đó có dự hậu (prognosis) hoàn toàn khác. Những nhận xét ở trên chỉ có tính cách thông tin. Bịnh nhân cần quan sát, ghi chú rõ ràng về các triệu chứng của mình và tốt hơn hết nhờ bác sĩ gia đình, bác sĩ chuyên khoa thần kinh, vật lý trị liệu và di truyền (nếu có) giải quyết vấn đề định bịnh rất phức tạp, cũng như để điều trị thích hợp. Chúc bịnh nhân may mắn. Tham khảo: 1)Forms of ALS https://alsnewstoday.com/forms-of-als/ 2) https://www.ncbi.nlm.nih.gov/pubmed/10679709 3)https://www.ninds.nih.gov/Disorders/Patient-Caregiver-Education/Fact-Sheets/Amyotrophic-Lateral-Sclerosis-ALS-Fact-Sheet 4)https://alsnewstoday.com/2019/05/03/biogen-tofersen-reduces-toxic-sod1-protein-levels-familial-als/ Bác sĩ Hồ văn Hiền Ngày 6 tháng 5, năm 2019 Quý vị có thể xem và nghe lại các bài giải đáp trên mạng Internet ở địa chỉ voatiengviet.com Quý vị muốn được giải đáp các thắc mắc về những vấn đề y học thường thức, xin gọi đến số (202) 205-7890, hoặc E-mail đến địa chỉ .
 
Tòa Trọng tài Thể thao phán quyết rằng quy định này là cần thiết phải áp dụng cho các vận động viên bị “rối loạn phát triển giới tính” để đảm bảo một sân chơi công bằng..
 

Đau vùng thái dương và hàm

Thính giả Trần Thị Xuân Liễu hỏi: “Thưa Bác sĩ, Em bị trình trạng hàm dưới bên phải run giật liên tục. Khi run có cảm giác như có nguồn điện chạy qua, rất đau đớn và khó chịu. Hiện tại em không thể nói hay ăn uống gì. Tại khi cử động là hàm sẽ bị co giật. Em đi thăm khám thì báo bị viêm dây thần kinh số 7. Nhờ Bác sĩ tư vấn giùm. Cảm ơn Bác sĩ." Bác sĩ Hồ Văn Hiền trả lời:  1) Dây thần kinh sọ số 7 hay dây thần kinh mặt (facial nerve) phụ trách vận động ở mặt (thay đổi các nét mặt) là chính, và phụ trách cảm giác ở 2/3 trước của lưỡi và một vùng nhỏ ở tai. Tôi không biết bệnh” viêm thần kinh 7” gây ra những chứng mà thính giả mô tả. Tôi xin bàn đến một hội chứng có thể liên hệ đến đề tài này với mục đích thông tin mà thôi. Đau ở vùng hàm có thể do rối loạn ở khớp giữa xương thái dương và xương hàm (Temporo maxillary joint/TMJ). Ở những bệnh nhân có khớp thái dương-hàm bình thường, cơn đau một bên hàm có thể thuộc về "Hội chứng đau cơ-cân" (myofascial pain syndrome, myo=cơ, bắp thịt; fascia= cân= màn gân bao bọc bắp thịt) do stress, mệt mỏi, hoặc co thắt trong các cơ nhai (cơ hình cánh, thái dương và masseter) gây ra. Hội chứng này là rối loạn phổ biến nhất ảnh hưởng đến vùng thái dương-hàm. Phổ biến hơn ở phụ nữ và xảy ra nhiều hơn lúc 20-30 tuổi và khoảng thời gian mãn kinh. Hội chứng đau myofascial không giới hạn ở các cơ phụ trách nhai. Nó có thể xảy ra bất cứ nơi nào trong cơ thể, phổ biến nhất là liên quan đến cơ bắp ở cổ và lưng. 2) Bác sĩ chẩn đoán dựa trên bịnh sử (medical history) và khám bịnh nhân, những điểm nhạy đau (muscle knots) và tình trạng khớp TMJ. Các triệu chứng bao gồm: -Chứng nghiến răng (thường là lúc ngủ ban đêm, bruxism), vì những cơ nhai co mạnh và lâu dài lúc nghiến răng, sẽ có những vùng trong cơ nhai mà máu không cung cấp đủ dinh dưỡng và oxy, tạo nên "điểm kích hoạt" (trigger points, muscle “knots”) trong cơ nhai, do đó một nhóm sợi cơ (chứ không phải nguyên cơ bắp) ở trong tình trạng co rút thường trực, gây đau tại chỗ hay ở một nơi khác , và nhạy cảm lúc đụng vào, nhấn vào. Các điểm này là nơi xuất phát các cơn đau. Chứng nghiến răng có thể do mặt tiếp xúc của hai hàm răng không đều, tinh thần căng thẳng, hoặc rối loạn giấc ngủ. Bruxism có thể một hay nhiều yếu tố cọng lại gây ra, và nguyên nhân đích thực còn là đề tài tranh luận. -Cơn đau tự phát, hay đau lúc đụng chạm (tenderness) vào trong và xung quanh các bộ phận phụ trách nhai; điểm đau có thể ở một vùng kế cận, ngoài các cơ khớp dùng để nhai, nhưng liên hệ (referred pain) ở đầu và cổ, -Nhiều khi hàm dưới cử động không bình thường. -Cơ nhai đau hay nhạy lúc đụng, sờ vào. Hàm dưới có thể cử động giới hạn như không mở miệng lớn được. -Chứng nghẹt mũi về đêm và hơi thở bị rối loạn giấc ngủ, như ngưng thở khi ngủ do tắc nghẽn (obstructive sleep apnea) và “ hội chứng sức cản dòng không khí trong đường hô hấp trên” ( upper airway resistance syndrome [UARS) chỉ gây ngáy nhẹ) có thể dẫn đến đau đầu nghiêm trọng hơn khi thức dậy và giảm dần trong ngày. -Có thể nghiên cứu tình trạng bịnh nhân lúc đang ngủ: Bịnh nhân sẽ được quan sát trong một phòng ngủ trang bị đặc biệt để theo dõi oxy trong máu, nhịp thở, nhịp tim (ECG), cơ điện đồ (EMG), cử động các cơ điều khiển hai tròng mắt ( EOG, theo dõi các cử động mắt trong từng giai đoạn của giấc ngủ.) Test này gọi là polysomnography (poly= nhiều, somno= ngủ, gram =đồ ). -Các triệu chứng mệt mỏi cơ hàm, đau hàm và đau đầu, có thể trở nên tồi tệ hơn nếu tình trạng nghiến răng tiếp tục trong suốt cả ngày. Một test đơn giản có thể giúp chẩn đoán: nhẹ nhàng nhét giữa các răng hàm phía sau ở mỗi bên hai ba cây đè lưỡi và bệnh nhân được yêu cầu từ từ ngậm miệng. Không gian khớp TMJ thoải mái hơn có thể làm giảm các triệu chứng. X-quang thường không có ích ngoài việc loại trừ viêm khớp. 3) Điều trị: Thuốc giảm đau nhẹ, chẳng hạn như NSAID ( vd ibuprofen hay Motrin) hoặc acetaminophen (hay Tylenol), Trong một số trường hợp đau mãn tính, bác sĩ có thể cần chữa trầm cảm kèm theo . Thuốc an thần (anxiolytic) khi đi ngủ Nẹp nhựa "splint", hoặc "mouth guard" bảo vệ miệng do nha sĩ tạo ra theo ni của hàm có thể giữ cho răng không tiếp xúc với nhau và ngăn ngừa những thiệt hại gây ra bởi bệnh nghiến răng. Có thể mua cá mouthguard làm sẵn, và uốn nắn được lúc hơ nóng ở cửa hàng bán đồ thể thao hoặc nhà thuốc; tuy nhiên, các loại nẹp này nên được sử dụng trong thời gian ngắn và dùng thử xem có giúp ích hay không. Vì răng có thể di chuyển, nên có dụng cụ bảo vệ miệng được nha sĩ chế tạo đúng cách. Nẹp răng là phương pháp điều trị nha khoa phổ biến nhất đối với các rối loạn khớp thái dương hàm (TMDs); sử dụng trong thời gian ngắn và không gây ra thay đổi vĩnh viễn ở răng hoặc hàm. "Nẹp răng" (dental splint), hay "nẹp khớp cắn" (occlusal splint), gồm tấm cắn (bite plate) và miếng bảo vệ miệng (mouth guard), được nha sĩ chế theo kích thước của bịnh nhân, làm bằng nhựa trong. Bịnh nhân mang nẹp bao bọc trên mặt răng, giữa hàm răng trên và dưới. Nẹp răng có thể giúp giảm tính căng thẳng của các cơ nhai và ổn định hàm. Nẹp làm người bịnh không nghiến răng được vì nghiến chặt hàm (bruxism) có thể gây căng cơ và đau. Nẹp được đeo chủ yếu vào ban đêm, vì đa số có xu hướng nghiến răng trong khi ngủ. Bệnh nhân cần làm quen với việc đeo và chăm sóc nẹp, và có thể cần điều trị trong 3 tháng trở lên. Trường hợp đĩa đệm khớp hàm bị di chuyển (disc displacement) và co thắt cơ nhai, có thể nên đeo nẹp vào ban ngày và ban đêm trong khoảng 2 tuần, và sau đó chỉ đeo ban đêm trong thời gian bị căng thẳng và đau. Nhờ vậy có thể cho phép một đĩa bị dịch chuyển trở về vị trí bình thường. Nẹp có thể giúp ích để điều trị đau và căng cơ cho nhiều người bị rối loạn đau khớp thái dương-hàm (TMD, temporomandibular disorder). Bệnh nhân phải học cách ngừng nghiến răng và nghiến răng khi thức dậy. Tránh thức ăn khó nhai và kẹo cao su. Các phương thức vật lý: --kích thích dây thần kinh xuyên da (TENS)  --phun và giãn (spray and stretch): kéo từ từ cho hàm mở ra lớn ra sau khi da trên vùng bị đau đã được làm lạnh bằng nước đá hoặc phun chất làm lạnh da, như ethyl clorua. Gần đây người ta bắt đầu dùng độc tố Botulinum để làm giảm co thắt cơ trong hội chứng đau cơ. Đại đa số bệnh nhân, dù không được điều trị, được khỏi các triệu chứng đáng kể trong vòng 2 đến 3 năm. Chúc bịnh nhân may mắn. Bác sĩ Hồ Văn Hiền Ngày 1 tháng 5 năm 2019 Quý vị có thể xem và nghe lại các bài giải đáp trên mạng Internet ở địa chỉ voatiengviet.com Quý vị muốn được giải đáp các thắc mắc về những vấn đề y học thường thức, xin gọi đến số (202) 205-7890, hoặc E-mail đến địa chỉ .
 
Cứ 5 bệnh nhân mắc bệnh Ebola thì có 1 người phát triển các vấn đề về mắt nghiêm trọng sau khi thoát khỏi Ebola. Đây là một trong nhiều vấn đề mà các bác sĩ đã lưu ý sau khi dịch Ebola bùng phát ở Tây Phi năm 2014.
 

Nhiễm ký sinh trùng từ chó mèo

Thính giả Cang Nguyễn hỏi: “Thưa Bác sĩ, Em bị ngứa đi xét nghiệm máu thì chẩn đoán là nhiễm sán chó. Em xin Bác sĩ tư vấn cho em là nên dùng loại thuốc nào điều trị ạ. Cảm ơn Bác sĩ” Bác sĩ Hồ Văn Hiền trả lời:  Chó mèo có thể bị nhiễm nhiều loại ký sinh trùng như "sán tròn" hay giun đũa (roundworm), sán dây (tapeworm), sán móc (hookworm, ancylostoma); các loại sán này có thể được truyền qua người qua đường miệng hoặc qua đường da. Ví dụ sán móc có thể chui vào da lúc người đi chân không trên bãi biển, trong vườn có phân chó, chỗ nó chui vào da gây ngứa đỏ và có thể thấy đường đỏ ngoằn ngoèo đi dưới da (cutaneous larva migrans). Thường gặp nhất là sán tròn toxocara canis (chó) hay T. cati (mèo) gây ra bịnh toxocariasis. Hầu như thế nào con chó cũng có bị toxocara một vài lần trong đời và bác sĩ thú y thường cho xổ (tẩy) lãi đều đặn. Hết 20% chó trưởng thành và 50% chó con mắc Toxocara. Chó mẹ truyền qua chó con lúc có thai và lúc cho con bú. Ký sinh trùng thải ra từ phân chó rất nhiều, mỗi con sinh ra cả 200,000 trứng, và các trứng này có thể sống sót qua nhiều năm ngoài trời, trong các bãi các em bé hay đến chơi. Ở Mỹ, thường là trẻ con mắc bịnh này, nhất là vùng khí hậu ẩm ướt và nóng (ví dụ miền nam), do chơi các nơi đất bị nhiễm trứng sán do chó hay mèo đi cầu ở đó mà chủ không hốt lên và bỏ đi vào thùng rác. Trứng sán cần phát triển trong đất một thời gian mới gây bịnh được; nếu bé chỉ tiếp xúc trực tiếp với con chó hay con mèo thì không bị nhiễm Toxocara. Trẻ có tật ăn đất (pica) dễ bị bịnh này. Trứng do người nuốt vào ruột non, nảy nở ở đó, rồi thành ấu trùng đi theo dòng máu chui vào gan, phổi , mắt, não bộ (second stage larva, visceral larva migrans/VLM) và mắt (ocular larva migrans), sẽ bị bọc lại bằng một màng bao quanh (encyst) trong một bộ phận của con người, gây ra phản ứng viêm cục bộ trong một bộ phận vì con người chỉ là ký chủ "tình cờ", bất đắc dĩ của toxocara (accidental host); ký sinh trùng không trưởng thành được và không đi hết chu kỳ. Ngược lại, lúc được nuốt vào ruột chó hoặc mèo, trứng thành ấu trùng (larva) sẽ lên phổi, nuốt trở lại vào ruột  trưởng thành ở trong ruột con chó, mèo và sinh trứng tiếp). Gà, thỏ, cừu cũng là ký chủ bất đắc dĩ. Người cũng có thể bị nhiễm toxocara do ăn thịt gà, thịt cừu, thịt thỏ chưa nấu chín nếu những con vật này chứa những ấu trùng trong thịt của nó. Người bịnh có thể không có hay có ít hay nhiều triệu chứng. Nhẹ thì mệt mỏi, ho, nhức đầu, mất ngủ, khó chịu, đau bụng. Có thể triệu chứng nặng hơn như khò khè khó thở, nhất là trẻ em. Khám thấy gan lớn, hạch lâm ba sưng. Ký sinh trùng có thể di đến mắt (ocular larva migrans, có thể bị định bịnh nhầm là u bướu mắt ở trẻ em, có thể gây mù mắt một bên). Thử máu sẽ thấy những dấu hiệu của cơ thể phản ứng với ký sinh trùng như các tế bào eosinophil tăng cao (hypereosinophilia), lượng kháng thể (immunoglobulin) tăng cao (hypergammaglobulinemia). Thử nghiệm máu  (serological testing) giúp phát hiện nhiễm toxocara (enzyme immunoassay (EIA) with larval stage antigens extracted from embryonated eggs, Toxocara excretory-secretory (TES) antigens ) tìm và đo các kháng thể đặc thù với antigen của con ký sinh trùng, chứng minh là cơ thể đã tiếp cận với ký sinh trùng. Tuy nhiên, người có sán lãi cũng có thể phản ứng chéo với Toxocara canis. Người ta khuyến cáo không nên căn cứ trên một thử nghiệm thôi mà chẩn đoán mắc bịnh Toxocara. Các thử nghiệm này có mức chuyên biệt và nhạy cảm cao đối với ấu trùng di chuyển trong nội tạng nhưng ít nhạy hơn đối với ấu trùng di chuyển vào mắt.Thử nghiệm có thể phản ứng chéo với các giun sán khác, và bác sĩ quyết định có cần cho thuốc chữa hay không, dùng thuốc gì, và liều lượng thế nào tùy theo từng trường hợp. Khả năng một người VN trung bình có các ký sinh trùng  trong người cũng khá cao. Theo Bác sĩ Nguyễn Ngọc Ánh, chuyên khoa Ký sinh trùng (VN) cho biết hiện nay tỷ lệ nhiễm giun sán chó/mèo - toxocara trong dân số VN rất cao. “Đặc biệt những loại thuốc xổ giun uống một liều dự phòng thông thường không diệt được chúng. Một khảo sát về tình hình nhiễm giun tròn đường tiêu hóa trong 177 con chó tại một số địa phương tỉnh Thanh Hóa cho thấy qua mổ khám, tỷ lệ chó nhiễm toxocara canis chiếm từ 10-25% và qua xét nghiệm phân là từ 22,8-40%. Ngoài ra một khảo sát trên 90 mẫu rau sống bán tại các siêu thị trên địa bàn TP HCM, số mẫu rau nhiễm trứng giun đũa chó, mèo chiếm đến 67,7% “-(News.zing.vn; 18-9-2015). Theo Viện Thú Y VN (12/2018) tỷ lệ nhiễm giun đũa khá cao ở chó (37,7% và 24,3%), mèo (47,8% và 38,3%) tại Hà Nội và Hưng Yên. Chó mèo nuôi thả rông và đi vệ sinh bừa bãi  tại Hà Nội và một số ít được nuôi nhốt  được thả ra vào buổi sáng sớm để đi vệ sinh, phân chuồng chó mèo bị đổ ra mương ở trước nhà  là điều kiện thuận lợi cho việc phát tán mầm bệnh. Bên cạnh đó, thói quen ăn rau sống, trẻ em nghịch đất, cát  và thường xuyên ôm chó mèo vào lòng là  nguy cơ làm lan truyền mầm bệnh từ chó mèo sang người. Ngoài ra, việc hạ sốt cho trẻ con bằng các loại nước lá như nhọ nồi hoặc ăn rau má, diếp cá vào mùa hè cũng tiềm tàng nguy cơ nhiễm ấu trùng giun đũa chó mèo sang người. Kiểm tra trên người cho thấy >58% dương tính với Toxocara sp.” Thuốc mebendazol hay albendazole  làm con sán hay con lãi không hấp thu đường glucose được, mất dự trữ glycogen và mất nguồn năng lượng (ATP), do đó ký sinh trùng bị tê liệt và chết dần dần.( Khác với những thuốc chữa lãi khác như pyrantel và piperazine tác dụng trên  hệ thần kinh con ký sinh trùng (sán lãi) là các cơ của nó không đáp ứng với acetylcholine và do đó nó bị tê liệt nhanh chóng, bị đẩy ra khỏi ruột và còn sống lúc bị đi cầu ra ngoài). Albendazole thường được dùng với liều 400mg  (uống) hai lần/ ngày/trong 5 ngày. Đôi khi bịnh không khỏi hẳn, tái lại; và trong một công bố của Hàn Quốc (Min-Hye Kim) bịnh nhân bị các nốt trong phổi và các túi áp xe trong gan, đau bụng, ngứa dữ dội và mề đay, người ta dùng đến 3 đợt thuốc mới kết quả dứt bệnh sau hơn 2 tháng. Mebendazole, uống, thường được dùng với liều 100mg-200 x hai lần/ ngày/trong 5 ngày. Albendazole (Albenza) là thuốc chống giun sán phổ rộng, dùng để điều trị một số bệnh nhiễm trùng do giun như sán dây lợn (heo) và sán dây chó. Tác dụng phụ thường gặp của Albenza bao gồm: buồn nôn nôn đau dạ dày và bụng, đau đầu, chóng mặt, hoặc rụng tóc tạm thời. Hãy cho bác sĩ biết nếu có tác dụng phụ nghiêm trọng của Albendazole bao gồm: thay đổi thị giác, mắt vàng hoặc da, đau bụng hoặc đau bụng dữ dội Nước tiểu đậm, mệt mỏi khác thường, dễ bầm tím hoặc chảy máu, dấu hiệu nhiễm trùng (ví dụ: sốt, đau họng kéo dài), thay đổi lượng nước tiểu, nhức đầu dữ dội hoặc dai dẳng, co giật, mất tỉnh táo, hoặc cổ rất cứng. Liều lượng của Albendazol khác nhau, tùy thuộc loại nhiễm ký sinh trùng đang được điều trị. Albenza có thể tương tác với các loại thuốc khác bao gồm kháng sinh, cimetidin, dexamethasone, Praziquantel hoặc theophylline. Hãy cho bác sĩ của bạn tất cả các loại thuốc bạn đang dùng. Khi mang thai, Albenza chỉ nên được sử dụng khi được kê đơn. Thuốc có thể gây hại cho thai nhi. Phụ nữ trong độ tuổi sinh đẻ nên thử thai âm tính trước khi bắt đầu dùng thuốc này. Nếu bạn có thai, hãy nói với bác sĩ của bạn ngay lập tức. Nam giới và phụ nữ nên sử dụng 2 hình thức ngừa thai hiệu quả (ví dụ: bao cao su và thuốc tránh thai) trong khi dùng Albenza và trong 1 tháng sau khi ngừng thuốc. Người ta không biết Albenza truyền vào sữa mẹ hay không. Tham khảo ý kiến bác sĩ trước khi cho con bú. Chúc bịnh nhân may mắn. References: 1) Min Hye Kim A Case of Recurrent Toxocariasis Presenting With Urticaria https://www.ncbi.nlm.nih.gov/pmc/articles/PMC2946705/ 2) https://www.rxlist.com/albenza-side-effects-drug-center.htm 3) Nghiên cứu đặc điểm dịch tễ học phân tử giun đũa chó (Toxocara canis) và giun đũa mèo (Toxocara cati) nhằm đánh giá nguy cơ và nguồn truyền sang người https://www.most.gov.vn/vn/tin-tuc/14503/nghien-cuu-dac-diem-dich-te-hoc-phan-tu-giun-dua-cho-toxocara-canis-va-giun-dua-meo-toxocara-cati-nham-danh-gia-nguy-co-va-nguon-truyen-sang-nguoi.aspx 4) DPDx - Laboratory Identification of Parasites of Public Health Concern CDC https://www.cdc.gov/dpdx/toxocariasis/index.html 5) AAP Red Book, 2009 Bác sĩ Hồ Văn Hiền Ngày 19  tháng 3 năm 2019 Quý vị có thể xem và nghe lại các bài giải đáp trên mạng Internet ở địa chỉ voatiengviet.com Quý vị muốn được giải đáp các thắc mắc về những vấn đề y học thường thức, xin gọi đến số (202) 205-7890, hoặc E-mail đến địa chỉ .
 
Mỗi năm, hàng trăm phụ nữ Nga có thai đến Hoa Kỳ sinh con để con họ có thể được hưởng tất cả các đặc quyền mà quốc tịch Mỹ mang lại.
 
Thính giả Thuan Bui hỏi: Thưa Bác sĩ, Tôi có em trai 23 tuổi bị co giật cơ ở cổ, co giật không ý thức. Xin hỏi làm thế nào để trị bệnh này ạ. Cảm ơn Bác sĩ” Bác sĩ Hồ Văn Hiền trả lời: Theo nguyên tắc, chúng ta không thể có ý kiến về một trường hợp cá biệt. Về từ ngữ: fasciculation gốc chữ fascia, nghĩa là một chùm, một bó, ở đây, nói về một bó sợi cơ (fasciculus,a bundle of muscle fibers). Mỗi sợi cơ là một tế bào riêng rẻ, hình dài; có bắp cơ (muscle) chứa hàng ngàn sợi cơ, có bắp cơ chỉ có vài chục sợi cơ. Lúc có dòng điện từ các dây thần kinh kích thích, các sợi cơ sẽ co vào trong một thời gian rồi giãn ra. 1)Trong chứng giật cơ (fasciculation, muscle twitching), một nhóm sợi cơ co giật mà mình không kiểm soát được, chứ không phải toàn cơ bắp, ở những cơ bình thường mình cử động theo ý muốn. Những nơi thường xảy ra là mí mắt, cánh tay, cẳng chân , bàn chân. Đặc biệt là các cơ không bị liệt, hay bị yếu đi. Những nguyên nhân làm co giật vài nhóm sợi cơ lẻ tẻ thường gặp: -uống quá nhiều cà phê, có chứa cafein, -sau khi thể dục, thể thao nhọc nhằn, -thiếu calcium, magnesium trong máu, thiếu vitamin D, -cơ chung quanh mắt có thể giật vì chính trong mắt bị bệnh hay làm cho khó chịu. Một số thuốc (vd: Dramamine (dimenhydrinate); Sudafed (pseudoephedrine); Ritalin (methylphenidate); Benadryl dùng lâu dài; morphine lúc cai thuốc) có thể gây ra co giật bó sợi cơ. Thường bịnh tự khỏi sau vài ngày. Ngưng thuốc gây co giật sợi cơ. Nếu cần uống thêm calcium, magnesium (200-500mg/ngày, có thể làm phân lỏng).Thư giãn, massage các cơ, tập thở theo kiểu thiền. Nếu cần thiết, có thể cho dùng thuốc giảm viêm mạnh như prednisone, thuốc giãn cơ như Carisoprodol (Soma)(dùng ngắn hạn; làm bớt tỉnh táo, buồn ngủ; có thể gây nghiện) Nếu co giật chung quanh mắt cần bác sĩ khám xem mắt có vấn đề gì hay không và chữa trị nguyên nhân đó. 2) Benign fasciculation syndrome" (BFS), tạm dịch là “Hội chứng rung giật cơ lành tính". Trong trường hợp này, các cơ co giật xảy ra liên tục hay thường xuyên, đột ngột, mãn tính và ảnh hưởng đến phẩm chất cuộc sống, đi kèm theo với nhiều triệu chứng khác (nên mới gọi là hội chứng); và không tìm được nguyên nhân. Bác sĩ cần loại bỏ các lý do có thể gây co giật cơ trước khi quyết định đây là một bịnh "không rõ nguyên do" (essential). Các triệu chứng khác: -mệt mõi, -đau nhức cơ bắp, -lo âu, -yếu , mau mệt, co rút bắp thịt, -cảm thấy nghẹn họng (globus sensation, như có cục gì trong họng), -ngứa, -rung tay chân (tremor), -cơ cứng, co rút, -tăng các phản xạ gân xương (hyperreflexia). Nguyên nhân: Chưa hiểu rõ, có thể ở các sợi cơ, các tế bào thần kinh vận động hay nơi tiếp xúc giữa tế bào thần kinh và cơ. Định bịnh BFS: Căn cứ trên triệu chứng lâm sàng. Bác sĩ cần chắc chắn là các cơ không bị liệt hay yếu. Cần loại bỏ trường hợp thiếu Calci, Magnesium, vitamin D, liên hệ tới việc dùng thuốc. BFS khác với những trường hợp mà fasciculation có thể là thành phần một số bịnh làm bại liệt mà nguyên nhân nằm ở các tế bào thần kinh vận động của tủy sống (MND : motor neuron disease). -Như bịnh ALS (amyotrophic lateral sclerosis) cũng có fasciculation nhưng triệu chứng chính là các cơ bị teo và bắt đầu ở hai chân bị yếu, hay đi vấp ngã; bịnh nhân chỉ sống được vài năm. Trong cơ điện đồ (EMG) của ALS, có dấu hiệu dây thần kinh bị hư hại, có thể có fasciculation trong EMG (nhưng không đặc thù cho bịnh này), do đó dễ gây lẫn lộn giữa benign fasciculation syndrome (bịnh hiền, EMG bình thường) và ALS. -Một số bịnh hiếm hơn nguyên nhân do bịnh tự miễn nhiễm (Stiff Person Syndrome), hay bịnh di truyền (spinal muscle atrophy). -Bịnh nhiễm như bịnh dại. Chữa trị: - Giảm stress; chữa rối loạn lo âu (Vd: Sertralin [Zoloft]), amitriptyline [Elavil]) - Một số thuốc dùng chữa bịnh rung vô căn (essential tremor) : beta blocker, thuốc chống co giật (anticonvulsivant) cũng được dùng cho BFS. Propanolol là thuốc ngăn chặn tác dụng kích thích của loại neurotransmitters như adrenaline (chất tiết tuyến thượng thận). Phản ứng phụ: mệt mỏi, nghẹt mũi, tim đập chậm, không dùng cho người bị suyễn. Primidone, là một thuốc chống động kinh. Có thể làm buồn ngủ, lờ đờ, buồn nôn, mất thăng bằng. Gabapentin (Neurontin) chủ trị động kinh. -Tránh cà phê, thuốc lá. -Sống lành mạnh điều độ; tập thể thao, thể dục, thiền, đọc kinh, yoga; ngủ đủ giờ, tránh thức khuya, ăn ngủ bất thường, stress. Dự hậu: Đa số bịnh nhân thuyên giảm với thời gian. Chữa bịnh lo âu (anxiety) là yếu tố quan trọng nhất. Có khi bịnh nhân tự khỏi bịnh (spontaneous remission). Nếu bác sĩ không chắc chắn là bịnh BFS mà có thể có dấu hiệu của các bịnh tế bào thần kinh vận động (motor neuron disease) (như teo cơ, liệt, yếu cơ), bác sĩ sẽ cần theo dõi bịnh nhân theo định kỳ, bịnh nhân cần cho bs biết nếu thấy triệu chứng nặng thêm, hay có triệu chứng mới xuất hiện; với thời gian có thể sẽ kết luận dứt khoát hơn. Theo những tài liệu tôi tìm được, không thấy có liên hệ giữa chứng động kinh và đột quỵ với bịnh BFS. Những nhận xét trên đầy hoàn toàn tổng quát, trong mục đích thông tin. Bịnh nhân cần được bác sĩ khám và hướng dẫn. Chúc bịnh nhân may mắn. Bác sĩ Hồ Văn Hiền Ngày 3 tháng 2 năm 2019 Quý vị có thể xem và nghe lại các bài giải đáp trên mạng Internet ở địa chỉ voatiengviet.com Quý vị muốn được giải đáp các thắc mắc về những vấn đề y học thường thức, xin gọi đến số (202) 205-7890, hoặc E-mail đến địa chỉ .
 
Trong Thông điệp Liên bang đọc hôm 5/2, Tổng thống Hoa Kỳ Donald Trump kêu gọi ngăn chặn việc phá thai trong giai đoạn cuối của thai kỳ
 

Chứng lo âu ở thanh thiếu niên

Thính giả Bích Ngọc hỏi: Con 15 tuổi. Con hay bị hồi hộp, tim đập nhanh, cơ chân, ngực, bụng hay giật khoảng vài giây, đặc biệt khi con căng thẳng giải bài tập; đặc biệt khi nằm xuống cả ngực và bụng đều đập mạnh một tí rồi hết, lâu lâu thấy tức chỗ ở giữa trên ngực. Con bị đã 2 tuần hơn. Mấy ngày đầu con đi khám, bác sĩ nói con bị hệ thần kinh tự quản, cho thuốc uống 5 ngày về nhà. Uống thuốc đỡ, nhưng hết thuốc con không uống nữa, Con đang thi học kỳ nên tình trạng hay xảy ra lắm. Mong Bác sĩ cho con lời khuyên và cách điều trị. Cảm ơn Bác sĩ” Bác sĩ Hồ Văn Hiền trả lời:  Thính giả đặt câu hỏi mới 15 tuổi, rất tiếc bác sĩ không thể có ý kiến trực tiếp với cháu được về vấn đề sức khỏe. Cháu cần sự hướng dẫn và cho phép của phụ huynh khi tham khảo ý kiến chuyên môn. Tuổi 15 là lứa tuổi về thể chất người con gái (ít lắm là ở Mỹ) gần như đã trưởng thành và bắt đầu suy nghĩ về việc sống một mình sẽ như thế nào, lúc lên đại học sống tự lập, có phòng, căn hộ riêng. Lúc này, bắt đầu quan hệ với các thiếu niên khác, đôi khi quan hệ tính dục, thêm vào những ưu tư về ngoại hình (đa số lo mình quá mập, ăn kiêng) và về điểm số trong trường. Đó là chưa kể ảnh hưởng của các hormon trong chu kỳ kinh nguyệt, ví dụ người thiếu nữ sẽ có những triệu chứng như đau bụng, nhức đầu, sình bụng, mệt mỏi, tiêu chảy, bón, giảm trí nhớ, bực bội , nóng nảy, hồi hộp, những triệu chứng này giống và có thể được gán cho "hệ thần kinh tự dưỡng", tuy nguyên nhân chính là các hormon thay đổi trong 1-2 tuần trước khi có kinh. Người thiếu nữ có chiều hướng giảm bớt các xung đột với cha mẹ, có trách nhiệm hơn, và chịu khó tôn trọng kỷ luật khi một số quyền lợi đi đôi với việc người con tôn trọng một số luật lệ cha mẹ đặt ra. Do hoàn cảnh của cuộc sống tương đối độc lập hơn trước, người thiếu nữ có thể cảm thấy bị áp lực nhiều hơn, do đó lo âu nhiều hơn, và có thể cảm thấy cô đơn hơn nếu họ không có phụ huynh hay người lớn tuổi hơn đứng ra hướng dẫn hay làm chỗ dựa giúp mình giải quyết các mối lo đó. Các mối lo âu không được giải toả sẽ ngấm ngầm thể hiện bằng những triệu chứng cơ thể mà lúc đó cha mẹ sẽ nhờ đến bác sĩ giải quyết; bác sĩ sẽ có khuynh hướng biên toa để chữa các triệu chứng vật thể này mà không giải quyết nguồn gốc tâm lý, tinh thần, xã hội gắn liền với giai đoạn phát triển của bịnh nhân. Cho sau đây nên chúng ta sẽ bàn chi tiết hơn về khía cạnh này. Tôi chỉ xin giới hạn vào một số kiến thức tổng quát về chứng lo âu ơ thanh thiếu niên để chúng ta cùng học hỏi. Lo âu (anxiety) thường xảy ra ở thanh thiếu niên với các triệu chứng tâm thể (psychosomatic symptoms) của nó như "hồi hộp, tim đập nhanh, cơ chân, ngực, bụng hay giật khoảng vài giây","nằm xuống cả ngực và bụng đều đập mạnh một tí rồi hết, lâu lâu thấy tức chỗ ở giữa trên ngực". Lúc người bịnh bất an về tinh thần, tâm lý và sự bất an này biểu hiện qua những triệu chứng thể chất, chúng ta gọi hiện tượng này là "somatization". Hiện tượng này có thể biểu hiện qua những bất quân bình trong hệ thần kinh tự dưỡng (tk "tự quản" theo từ ngữ của thính giả; autonomic nervous system) như tay chân lạnh (vì các động mạch ngoại biên co lại), tim đập nhanh, mồ hôi toả ra, ói mửa, bón...nhưng rối loạn chính nằm ở tình trạng tâm lý xáo trộn của bịnh nhân (psychological distress). Đa số các cháu chỉ cần sự hướng dẫn của người lớn giúp các cháu hiểu thêm về nguồn gốc của mối lo, hướng dẫn các cháu khắc phục các nỗi lo âu (ví dụ giúp tổ chức công việc, làm bài, nhờ thầy dạy thêm), thông cảm và vỗ về các cháu, giúp các cháu trong quá trình phát triển thành một người lớn làm việc có phương pháp hơn, tự tin hơn với tầm nhìn xa hơn là một người trong tuổi thiếu niên. - Chứng lo âu là một phản ứng của cơ thể đứng trước một mối nguy cảm nhận hay có thật hay một biến cố quan trọng. Ví dụ chuẩn bị đi thi, kỳ thi quyết định cho thành quả năm học, khoá học, có thể đưa đến việc bị cha mẹ trừng phạt, ở lại lớp, hay bạn bè chế nhạo nếu thất bại. Lo âu là một hình thức báo động và giúp cho chúng ta ở tình trạng cảnh giác để ứng phó, giúp chúng ta tránh một sự đe doạ ví dụ tránh xe đụng nơi đông xe cộ, hay giúp chúng ta chuẩn bị để có thể thực hiện với thành quả tốt nhất. Đây là một tình huống thường gặp và không kéo dài. Trái lại, rối loạn lo âu được định bịnh lúc nó kéo dài trên 6 tháng, dai dẳng và cao độ, ảnh hưởng đến cuộc sống hàng ngày. Trên lý thuyết, chúng ta là "con người khôn ngoan' (homo sapiens) đã tiến hoá chừng 2 triệu năm, xa nguồn gốc thú vật. Nhưng trên thực tế, trên căn bản, hiện nay cách cơ thể chúng ta hiện nay phản ứng với lo âu lúc người trẻ đi thi tốt nghiệp trung học cũng không khác gì lắm với lúc một thiếu niên lúc lần đầu phải ra khỏi hang động đối phó với con chó sói lần đầu tiên mấy ngàn năm trước lúc loài người còn sơ khai. Lo âu tác dụng trên: - Tư tưởng: chúng ta nghĩ đến những đe dọa có thể xảy đến - Cơ thể: con ngươi nở lớn, nhìn thấy sáng hơn, hoặc mờ hơn, tim đập nhanh và mạnh hơn, các cơ bắp căng thẳng. Thở nhanh hay thở mạnh (sâu) có thể làm mình chóng mặt, lâng lâng, không bình tĩnh. Các động mạch ở phần xa của cơ thể như các ngón chân, bàn chân, bàn tay co lại, giành máu ưu tiên dồn về các cơ bắp lớn ở đùi để chạy khỏi nơi nguy hiểm. Những biến chuyển trên được thực hiện qua sự gia tăng tác động của hệ thần kinh giao cảm (sympathetic). Trong lúc đó, phần đối nghịch là hệ thần kinh đối giao cảm (parasympathetic) như tiêu hoá trong dạ dày và nhu động ruột bị ức chế lại, chậm lại. Bịnh nhân có thể tiêu hoá chậm lại, thấy khó tiêu, xót ruột vì dịch acid tích tụ kéo dài trong dạ dày. - Hành vi, thái độ: chống trả, chạy trốn hay "chết đứng" Phản ứng đối với stress này gọi là "fight or flight/freeze response", có thể dịch thành "đánh, tránh quýnh". Ví dụ, một thanh niên có thể gây lộn, làm dữ với bố mẹ ép buộc mình phải thi vào y khoa lúc mình không muốn hay cảm thấy không đủ khả năng (fight/chống trả). Một thanh niên khác có thể tránh buổi khiêu vũ vì lo mình vụng về , có thể bị chê cười (tránh/flight). Hay 'lặng người", "chết đứng” lúc bị thầy giáo truy bài (freeze). Các biện pháp đối phó với sự sợ hãi: 1) Nhận diện các mối sợ của mình, gây lo âu, có thể lập một danh sách Mỗi mối sợ có thể chia ra nhiều mức khác nhau ("thang sợ"/ “fear ladder) và đối diện (phơi nhiễm/ exposure với mối gây sợ): ví dụ sợ phải nói trước công chúng có thể làm quen từ từ: nói trước người bạn>nói trước thầy giáo>nói trước thầy giáo và cả lớp. Tập dần dần từ dễ đến khó để từng bước đạt đến mục đích. Cũng như lái xe: ngồi đề máy trong sân với mẹ>tập de xe, lái xe trong khu phố> lái ra đường lớn hơn lúc vắng cuối tuần> lái ngày thường>ra xa lộ...) 2) Suy nghĩ đúng: Kiểm soát tư tưởng của mình, hướng về phía xây dựng hơn: Ví dụ trước kỳ thi, thay vì nghĩ đến "thi rớt, cha mẹ rầy la, bạn bè chê cười, suốt đời phải đi rửa chén, không nghề ngỗng gì cả", làm mình cáu kỉnh, đốp chát với cha mẹ, nhức đầu, đau bụng, mất ngủ. Nên lý luận với mình như thế này " Mình đang lo về cái vụ thi cử này đây, đúng như vậy; nhưng như vậy có nghĩa đây là một việc quan trọng, và mình nhất quyết làm tốt. Mình học bài rất kỹ rồi, và ngày mai mình sẽ làm hết khả năng. Mình sẽ không để cho sự lo âu cản đường đi đến thành công.” 3) Những biện pháp có thể thực hiện được gồm: - Tập thở đều đặn, chậm - Tham gia các lớp dạy chánh niệm (mindfulness), thiền định. Phương pháp chánh niệm quen thuộc với người Việt giúp ý thức về giây phút hiện tại là một phương tiện hữu hiệu giải toả tình trạng lo âu. Phương pháp này (mindfulness) được nhắc đến và thực hành nhiều ở Mỹ (“experiencing the present moment”). - Hiển thị (visualization), tập thở đều đặn, tưởng tượng như mình ngồi trước một bờ biển, cảnh núi non, tập thở đều đặn và tập trung vào việc thở, hít qua mũi và thở ra miệng từ từ. Cuối bài viết, tôi có tạm dịch bài script (kịch bản, trong trang AnxietyCanada) hướng dẫn học trò hiển thị phòng thi để giảm bớt lo âu trước khi đi thi, hay kiểm tra. Một người lớn đọc script để hướng dẫn người sắp đi thi trong vài phút tĩnh tâm.(1) Ngoài ra, nên để ý về vệ sinh cuộc sống: 1) Ngủ đủ giờ, tránh thức khuya quá đáng, tránh ồn ào, tránh ô nhiễm ánh sáng nơi ngủ (các đèn điện tử, TV chạy suốt đêm) 2) Tránh hút thuốc, các chất kích thích, soda (nước ngọt có cafein) 3) Vận động cơ thể thường xuyên (exercise) 4) Ăn uống lành mạnh, không quá nhiều đường, nhiều thức ăn chế biến, ăn rau quả, trái cây đầy đủ. 5) Đối với giới trẻ hiện nay, internet, nhất là các trang mạng xã hội như Facebook, Tweeter là một nguyên nhân quan trọng gây stress và lo âu, do áp lực của nó trên tâm hồn còn non trẻ, dễ bị ảnh hưởng của lứa tuổi thanh thiếu niên. Nên điều độ, giảm giờ trên mạng xã hội, và dành nhiều giờ hơn cho sinh hoạt với gia đình, thể thao thể dục. Đối với thanh thiếu niên, vai trò hỗ trợ và hướng dẫn của cha mẹ, phụ huynh, thầy cô, các cố vấn trong trường học các vị hướng dẫn tôn giáo, rất cần thiết để giúp các em hiểu hơn về những khó khăn, thách thức làm mình lo âu, gây nên những biểu hiện trên cơ thể như nhức đầu , đau bụng , mệt mỏi. Những trường hợp kéo dài, ảnh hưởng đến nếp sống, học hành của các em cần các chuyên gia về tâm lý, bác sĩ tâm thần can thiệp. Nếu rất cần, bác sĩ mới dùng đến thuốc men để chữa bịnh (thuốc an thần, thuốc chống trầm cảm) và theo dõi cẩn thận. Thuốc trị bịnh tâm thần (psychotropic drugs) cần được đắn đo kỹ lưỡng trước khi dùng cho các em còn non nớt, trong quá trình phát triển cả thể chất lẫn tinh thần. Đáng chú ý hơn hết là một số thuốc chống trầm cảm cho thanh thiếu niên có tác dụng gây tự tử nhiều hơn, do đó, bác sĩ cần theo dõi kỷ và bịnh nhân phải uống thuốc hay ngưng thuốc theo đúng hướng dẫn của bác sĩ chuyên môn. Tập thở/ Hiển thị đối phó với lo âu trước khi thi test (Test Anxiety Visualization) (Gợi ý cho người đọc to kịch bản cho thanh thiếu niên: • Khi đọc kịch bản, hãy nói chậm, giọng bình tĩnh và êm dịu. • Tạm dừng sau mỗi hướng dẫn để có đủ thời gian thi hành. • Đừng để ứng viên quá căng thẳng, có cảm thấy căng trong cơ bắp nhưng không tới mức đau. Ứng viên nên căng từng cơ bắp khoảng 5-8 giây trước khi giãn cơ bắp.) Kịch bản (script): 1. Bạn (con, em) nhắm mắt nhẹ nhàng và thoải mái. Đừng đãng trí trong mấy phút sau đây. Hãy dùng khoảng thời gian này để tập trung và thư giãn. Để ý một số các khu vực chính trong cơ thể của bạn, những nơi căng thẳng gia tăng. Scan cơ thể của bạn bây giờ để tìm những những vùng căng thẳng. Cứ mỗi vùng, hãy tưởng tượng hướng hơi thở của bạn đến khu vực đó. Vai, tay, lưng, cổ và hàm của bạn. Hãy tưởng tượng như hít thư giãn vào ... và thở hết sự căng thẳng ra ngoài. Hít một cảm giác thư giãn và thở ra tất cả sự căng thẳng. Cảm thấy cơ bắp của bạn thư giãn với mỗi hơi thở. 2. Bắt đầu thư giãn cơ thể. Hít một hơi thật sâu vào, giữ nó nhẹ nhàng ... và thả nó ra Hít vào một lần nữa ... tạm dừng ... và thở hết ra Thở vào...tạm dừng ... vào... ra ...vào ... ra... 3 Giữ nhịp thở tự nhiên. Với mỗi hơi thở, bạn càng trở nên thoải mái hơn. Nếu còn vướng suy nghĩ lo lắng nào, hãy mặc kệ để nó, sẽ tính sau. (Tạm ngừng.) 4 Bây giờ bạn đang cảm thấy bình tĩnh và thư giãn. Toàn bộ cơ thể bạn cảm thấy thư giãn và nặng nề. 5 Bây giờ bắt đầu tưởng tượng ngồi xuống để viết một bài kiểm tra. Bạn cảm thấy rất có động lực để học cho kỳ thi này và làm tốt. Hoàn toàn tưởng tượng cảm giác này, và cho phép mình trải nghiệm nó hoàn toàn. Cảm thấy mình có nhiều cảm hứng.. (Tạm ngừng.) 6 Bạn mong muốn làm bài kiểm tra này và làm tốt. 7. Bây giờ hãy tưởng tượng mình vào phòng thi. Bạn đang cảm thấy một chút phấn khích làm bài kiểm tra và chia sẻ những gì bạn biết với giáo viên của bạn; đồng thời, bạn cảm thấy tự tin. Bạn tưởng tượng đi bình tĩnh vào lớp và ngồi xuống. Khi bạn bước vào lớp, bạn nói với chính mình, khi tôi đến ghế của mình, mình sẽ chỉ tập trung vào bài kiểm tra dù cho mình cảm thấy lo lắng. 8. Bạn thấy mình ngồi trên ghế. Bạn nhận thấy những gì diễn ra xung quanh bạn. Bạn nghe các sinh viên khác lao xao về chỗ ngồi. Bạn mỉm cười với họ. Bạn sờ thấy mặt bàn gỗ cứng. Bạn cảm thấy cây bút cầm trong tay. Bạn thấy giáo viên phát bài kiểm tra. Bạn cảm thấy một chút lo lắng cũ tăng lên. Bạn nói với chính mình: Nó chỉ là nỗi lo lắng của mình thôi; mình có thể đối phó với nó. Nó sẽ không ngăn mình làm bài kiểm tra này." 9. Bây giờ, bài kiểm tra đang ở trước mặt bạn trên bàn. Hãy tưởng tượng scan qua toàn bộ bài kiểm tra một cách bình tĩnh và tự tin. Bạn khám phá ra rằng bạn đã biết ít nhiều về mỗi câu trả lời và bạn cảm thấy đã sẳn sàng. Bạn cảm thấy thư thái, vui vẻ. Bạn bắt đầu tổ chức thời gian. Bạn tự nhủ, tôi sẽ tiếp tục suy nghĩ một cách bình tĩnh và không để nỗi lo lắng của mình xâm chiếm. Mình đã làm nhiều bài kiểm tra trước đây và không có lý do gì mình không làm được ngày hôm nay. Đây là cơ hội để mình chứng tỏ những gì mình biết. 10. Hít một hơi thật sâu, thật chậm và thở ra hết. Tốt. Bạn cảm thấy cơ thể thư giãn và cho phép tâm trí của bạn trở nên bình tĩnh. Trong trạng thái bình tĩnh này, bạn có thể tập trung vào bài kiểm tra và nhìn thấy mọi thứ rõ ràng. Bây giờ bạn bắt đầu viết câu trả lời cho từng câu hỏi. Bạn có thể nhớ những gì bạn đã học. Các câu trả lời và ý tưởng đang đổ ra dễ dàng lên các trang giấy. Một số câu hỏi rất dễ và đơn giản, và bạn trả lời chúng nhanh chóng. Một số câu hỏi suy nghĩ nhiều hơn. Bạn biết sẽ có những câu khó hơn này, và bạn đã chuẩn bị. Bạn cố gắng hết sức và tìm cách thể hiện những gì bạn biết. 11. Bây giờ bạn đã hoàn thành và bạn làm bài kiểm tra của bạn. Bạn cảm thấy vui và tự hào. Bạn nói với chính mình " Tôi đã làm xong việc mà không bị khớp. Tôi đã không để nỗi lo lắng của mình xâm chiếm". Tận hưởng cảm giác thành công. (Tạm ngừng.) 12. Bây giờ bạn đã hoàn thành hiển thị việc chuẩn bị kiểm tra, bạn cảm thấy bạn được chuẩn bị tốt hơn cho quá trình làm bài kiểm tra. Bạn tự tin rằng bạn sẽ có thể kiểm soát sự lo lắng của bạn và tập trung vào bài kiểm tra. Bạn bình tĩnh, tự tin, và giành quyền chủ động. 13 .Từ từ bắt đầu trở về phòng ... trả lại nhận thức của bạn cho thời gian hiện tại. Ngọ nguậy ngón tay của bạn. Ngọ nguậy ngón chân của bạn. Cảm thấy bàn tay và cánh tay của bạn thức dậy. Quay của bạn đầu từ bên này sang bên kia ... cảm thấy cơ thể bạn thức dậy. 14. Khi bạn cảm thấy tỉnh táo, linh hoạt, bạn có thể trở về các hoạt động thông thường của mình, cảm thấy tràn đầy năng lượng, động lực và tự tin. Bác sĩ Hồ Văn Hiền Ngày 8 tháng 2 năm 2019 Reference: https://youth.anxietycanada.com/sites/default/files/scripts/Test%20Anxiety%20Visualization%20Script.pdf   Quý vị có thể xem và nghe lại các bài giải đáp trên mạng Internet ở địa chỉ voatiengviet.com Quý vị muốn được giải đáp các thắc mắc về những vấn đề y học thường thức, xin gọi đến số (202) 205-7890, hoặc E-mail đến địa chỉ .
 
Thính giả Hong A hỏi: Thưa Bác sĩ,  Tôi thường bị rát lưỡi từ 4 năm nay. Tôi ăn uống thì bình thường không rát; không ăn uống thì rát. Ăn cay hay mặn cũng không rát mà có cảm giác ngon miệng. Vậy tôi xin hỏi Bác sĩ nguyên nhân nào, hay thiếu chất gì. Cảm ơn Bác sĩ” Bác sĩ Hồ Văn Hiền trả lời:  Có nhiều bịnh có thể gây rát, đau lưỡi, những nguyên nhân dễ phát hiện nhất như loét lưỡi, bịnh nấm ở lưỡi, ung thư ở lưỡi được cần được bác sĩ nghĩ tới và thu thập đủ dữ kiện (như hỏi bịnh sử, ví dụ người hút thuốc lá hay không; khám thấy có tổn thương gì trên niêm mạc miệng hay không, làm sinh thiết/biopsy nếu khả nghi) để xác nhận hay loại bỏ các chẩn đoán này. Tất nhiên, tôi không thể định bịnh hay tư vấn cho một bịnh nhân cá biệt được, và cũng như mọi khi, lúc quý vị thính giả đưa ra một trường hợp như bịnh này, chúng ta chỉ có thể xem đây như là một cơ hội để chúng ta học hỏi thêm về một số tin tức trong y văn hiện nay, có thể có mà cũng có thể không liên hệ trực tiếp đến trường hợp chúng ta đang bàn. Sau đây tôi xin bàn về Hội chứng Rát Miệng (Burning Mouth Syndrome, BMS), hay còn gọi là Bịnh “đau lưỡi” (glossodynia, glossa=lưỡi, odyna=đau). Đại đa số bịnh nhân là nữ (tỷ lệ 7/1 cho đến 31/1), đa số ở người phụ nữ đã tắt kinh, và có những triệu chứng khác của thời sau khi nghỉ kinh (postmenopausal). Phụ nữ gốc Á châu cũng như người Da Đỏ dễ mắc chứng này hơn. Triệu chứng: 1) Vị trí: đau ở 2 bên lưỡi; ít gặp hơn: ở vòm miệng, môi hoặc nướu răng hàm dưới 2) Đau mạn tính (chronic pain). 3) Đau theo lối rát, như bị phỏng (burning pain), hay tê tê, thấy rần như kiến bò (tingling). Nhiều khi chỉ mơ hồ là khó chịu, ê đau, không đau rõ rệt. 4) Triệu chứng đi kèm: cảm thấy khô miệng; khẩu vị, vị giác có thể thay đổi (dysgeusia); vd đắng lưỡi, vị kim loại (tanh/metallic taste); nhạy cảm quá đáng với những vị khác nhau; đau lưng mạn tính; ruột quá nhạy cảm dễ đau bụng đi cầu xong lại khỏi (irritable bowel syndrome, IBS); bụng sình hơi; cảm giác nuốt nghẹn (globus pharyngeus); đau bụng lúc có kinh (dysmenorrhea); cảm giác lo lắng (anxiety); ăn không ngon; trầm cảm (depression); rối loạn cá tính (personality disorders). 5) Thời điểm: Ba loại đau: Loại 1: sáng dậy không đau, đau xuất hiện, xong từ từ tăng dần, đau nhất buổi tối lúc giờ đi ngủ nên rất khó ngủ, làm mệt mỏi, lo lắng (nguyên nhân thường gặp là bịnh tiểu đường) Loại 2: đau lúc mới thức dậy và đau suốt ngày (thường gặp nhất) (thường do chứng lo âu) Loại 3: không theo thứ tự nhất định; khi đau khi không, nên để ý tới dị ứng thức ăn. 6) Những tình huống làm bịnh nặng hơn hoặc giảm bớt: a) Thần kinh căng thẳng, mệt, nói nhiều, thức ăn cay, nhiều gia vị. b) Ít đau hơn lúc ăn uống. Nên để ý, trong bịnh đau miệng do lở miệng, đau răng, đau hàm, người bịnh càng đau hơn lúc ăn uống; nếu đau rát miệng mà ăn uống lại bớt đau, thì đây là một dấu chỉ đặc biệt của “hội chứng rát miệng”. Có thể bớt đau nhờ uống thuốc hoặc thoa thuốc tê vào chỗ đau. 7) Cường độ đau: cở trên trung bình (5-8/10), tương tự như đau răng. 8) Có thể làm mất ngủ, nhưng có thể không ảnh hưởng giấc ngủ. 9) Bịnh nhân từng được nhiều bác sĩ khám và chữa nhưng không có kết quả rõ rệt. Nguyên nhân: Theo định nghĩa của BMS, chúng ta chưa hiểu rõ nguyên nhân chứng này, và chỉ định bịnh BMS sau khi loại bỏ những nguyên nhân có cơ sở thể chất cụ thể hơn (như loét do ung thư, đau răng, đau khớp thái dương-hàm dưới (temporomandibular joint, TMJ), viêm dây thần kinh do thiếu vitamin B, folic acid, Fe, zinc; do siêu vi [herpes virus]); suy cơ năng tuyến giáp (hypothyroidism); bịnh tiểu đường (diabetes type 2); dị ứng với thuốc, thức ăn, kim loại trong răng; thuốc hạ áp huyết loại ACE inhibitor (vd lisinopril); bịnh do răng giả (denture) gây khó chịu . Những giả thuyết giải thích BMS: -Những khảo cứu gần đây cho rằng BMS do rối loạn cơ năng các dây thần kinh sọ V, VII, IX phụ trách về vị giác ( cranial nerves V, VII, IX)(neuropathic pain) - Người mãn kinh thiếu hormone estrogen và progesterone - Hiện tượng tự miễn nhiễm (autoimmune), do cơ thể sinh ra những kháng thể chống lại chính mình ( những kháng thể chống nhân (ANA) hay yếu tố phong thấp (rheumatoid factor/RF) có thể hiện diện trong máu trên 50% bịnh nhân; bịnh khô miệng do nước miếng bất bình thường) - Bịnh trầm cảm, bịnh lo lắng có thể kèm theo. Bịnh BMS có thể là một biểu hiện của bịnh thần kinh tâm thể (psychosomatic manifestation, bịnh tâm lý biểu hiện bằng triệu chứng vật thể), chứng sợ ung thư, sợ bịnh phong tình, chứng "bịnh tưởng" (hypochondriasis). - Một số bịnh nhân có thể có thói quen lấy lưỡi chạm vào răng, hay đẩy lên vòm miệng làm gây ra những chấn thương li ti cho lưỡi. - Bịnh Parkinson có thể làm dây thần kinh nhạy với sự đau đớn hơn. - Liên hệ tới một giai đoạn khó khăn, bị stress trong đời, thường là 3-12 năm sau khi tắt kinh. Chữa trị: 1) Loại bỏ các khả năng bịnh đã kể ở trên gây ra triệu chứng khô, rát, đau lưỡi miệng. 2) Nếu không có bịnh đi đôi: bác sĩ cần giải thích cho bịnh nhân yên tâm; giảm lo lắng bịnh nhân, nhất là lo ung thư (cancerophobia), lo bịnh tính dục (sexually transmitted diseases); 3) Nếu cần thuốc an thần (benzodiazepine, vd clonazepam [Klonopin], chlordiazepoxide [Librium]), thuốc chống trầm cảm ba vòng ( tricyclic antidepressant), thuốc chữa trị co giật (anticonvulsivant, vd gabapentin [Neurontin], pregabalin (Lyrica) dùng với mục đích giảm cơn đau do dây thần kinh quá nhạy cảm gây ra.) 4) Capsaicin là một chất lấy từ ớt, có tác dụng làm giảm đau. Có những nghiên cứu cho thấy chất này có thể có ích trong chừng 1/3 các trường hợp. Tuy nhiên ở Mỹ không có thuốc chứa capsaicin để thoa trong miệng. Có nghiên cứu dùng viên capsaicin 0.25% trên 25 người bịnh so sánh với 25 người dùng placebo. Nhóm dùng capsaicin có giảm đau đáng kể nhưng lại bị biến chứng đau dạ dày vì thuốc (Petruzzi). Các khảo cứu còn giới hạn về châm cứu cũng cho thấy có ít kết quả. 5) Tránh thuốc súc miệng có chứa alcohol, kem đánh răng có chứa sodium lauryl sulfate tránh uống rượu, nước pH thấp (acid) như cà phê, nước cam, chanh. 6) Uống những ngụm nước thường xuyên cho miệng khỏi khô, mút nước đá, nhai kẹo cao su không có đường. 7) Các chất khoáng, vitamin: Vitamin B, Zinc, Folate, sắt (iron). Alpha-lipoic acid (ALA) là một chất kháng oxy-hóa (antioxidant) được cơ thể chúng ta sản xuất; trong các thức ăn như gan, tim, broccoli có nhiều ALA. ALA được dùng ở châu Âu nhiều hơn ở Mỹ, như là một chất bổ sung (ALA supplement) trong các trường hợp tiểu đường type 2 (người lớn tuổi), viêm thần kinh do tiểu đường, bịnh HIV và giúp sụt cân cho người mập. Alpha-lipoic acid (ALA) được bán trên thị trường dưới dạng "bổ túc dinh dưỡng"(600mg/ngày trong một tháng) có thể có kết quả giới hạn, tuy nhiên chưa được xác nhận dứt khoát. 8) Có thể cần tâm lý trị liệu (psychotherapy), hành vi trị liệu pháp (biobehavioral techniques). 9) Nên đi khám nha sĩ. Nếu một nguyên nhân vật thể giải thích được chứng đau miệng (ví dụ đi khám răng và thấy răng gần đó hay khớp TMJ gần đó có thể giải thích được cơn đau ở lưỡi) thì những chứng trầm cảm lo lắng có thể được giải toả sau khi giải quyết được bịnh đau miệng/lưỡi. Trong 2/3 trường hợp, bịnh BMS tự nhiên từ từ thuyên giảm, các cơn đau thưa thớt đi và bịnh nhân cuối cùng hết đau. Có thể kéo dài hằng tháng, hằng năm, nhiều năm. Chúc bịnh nhân may mắn. Reference: 1) Grushka M., Burning Mouth Syndrome. Am Fam Physician. 2002 Feb 15;65(4):615-621. http://www.aafp.org/afp/2002/0215/p615.html 2) Wikipedia.org Burning Mouth Syndrome 3) Danny Cheung and Nigel Trudgill  Managing a patient with burning mouth syndrome https://www.ncbi.nlm.nih.gov/pmc/articles/PMC5369598/ 4) Petruzzi M, Lauritano D, De Benedittis M, Baldoni M, Serpico R. Systemic capsaicin for burning mouth syndrome: short-term results of a pilot study. https://www.ncbi.nlm.nih.gov/pubmed/14720197 5)Burning mouth syndrome: a systematic review of treatments. https://www.ncbi.nlm.nih.gov/pubmed/28247977 6)Alpha-Lipoic Acid Useful in Treating Burning Mouth Syndrome https://www.lexi.com/individuals/dentistry/newsletters.jsp?id=june_08 7) https://www.webmd.com/diet/alpha-lipoic-acid-ala#1 Bác sĩ Hồ Văn Hiền Ngày 16 tháng 2 năm 2019 Quý vị có thể xem và nghe lại các bài giải đáp trên mạng Internet ở địa chỉ voatiengviet.com Quý vị muốn được giải đáp các thắc mắc về những vấn đề y học thường thức, xin gọi đến số (202) 205-7890, hoặc E-mail đến địa chỉ .
 

Dịch sởi lan rộng khắp Việt Nam

Truyền thông Việt Nam hôm 19/2 loan tin dịch bệnh sởi hiện lan rộng trên 43 tỉnh, thành phố, đặc biệt tập trung nhiều tại một số tỉnh, thành phố khu vực phía Nam, với 90 phần trăm số ca mắc sởi đều chưa được tiêm phòng hoặc không rõ về tình trạng tiêm phòng.
 

Vòng đeo tay thông minh kiểm tra sức khỏe

Các nhà khoa học đang giúp bệnh nhân chống lại bệnh cúm, tiểu đường và các bệnh khác với sự trợ giúp của đồng hồ thông minh theo dõi tình trạng hóa học cơ thể về lượng đường trong máu, mồ hôi và các dữ liệu khác. Các nhà nghiên cứu tại Đại học Texas ở Dallas cho biết nó cũng có thể giúp các cặp vợ chồng mang thai bằng cách theo dõi tình trạng căng thẳng.
 

Thuốc chữa viêm gan C (Hepatitis C)

Thính giả Lưu Bình hỏi: Thưa Bác sĩ,  Tôi là Bình 64 tuổi, 1999 bị tai nạn giao thông phải mổ sọ 3 lần. . . Sau đó vài năm tôi hiến máu tình nguyện và phát hiện bị nhiễm HCV, Bác sĩ có thể cho tôi biết tên thuốc đặc trị của nó. Ở Việt Nam có thuốc này và tôi được biết công ty sản xuất thuốc này chỉ cung cấp cho các bác sĩ nội nhiễm gan mật! Mong được Bác sĩ giúp đỡ. Chân thành cảm ơn Bác sĩ​. Cảm ơn Bác sĩ” Bác sĩ Hồ Văn Hiền trả lời:  Viêm gan có thể do nhiều nguyên nhân. Nhiễm vi rút là một trong những nguyên nhân thường gặp. Viêm gan C được khám phá sau viêm gan A (1970s) và B (Baruch Bloomberg 1967, HBV vaccine 1969)). Siêu vi gan C chỉ mới được tìm ra vào năm 1989; trước đó người ta chỉ biết viêm gan A và B; nếu không thể nhận diện viêm gan nào đó thì người ta gọi là "viêm gan không phải A hay B" (non A non B hepatitis).Sau đó còn bịnh viêm gan D (delta agent, chỉ đi kèm theo viêm gan B), viêm gan E (1990) và viêm gan G (1995). Bịnh Viêm gan C do virus viêm gan C gây ra (HCV). HCV là một sợi RNA đơn (single stranded RNA). Trước đây, người bị viêm gan sau khi truyền máu, hết 90% là do HCV gây ra. Gần đây, với khả năng sàng lọc (screening, 1992) máu trước khi truyền cho người nhận. Các biện pháp ngăn chặn HCV chỉ mới được CDC đề ra từ năm 1998. Nhiễm HCV sau khi truyền máu rất hiếm ở Mỹ (chừng 2 triệu bịch máu mới có 1 cas HCV). Tuy nhiên, đại đa số người bị viêm gan C hiện nay là do dùng thuốc ma tuý chích (intravenous drug use), hít cocain qua mũi, xăm mình và ở mức ít hơn, qua đường tính dục vì làm tình mà không dùng biện pháp an toàn để che chở (sexual transmission [by unprotected sex]). Trong số người bị nhiễm HCV cấp tính, chỉ một số ít có triệu chứng; như buồn nôn, vàng da (jaundice), nước tiểu vàng khè, đau bụng bên phải, phía trên (vùng gan). Triệu chứng kéo dài chừng 2 tuần đến 4 tháng. 86% -50% sẽ tiếp tục trở thành viêm gan C mãn tính (kinh niên)( chronic hepatitis C). Tuỳ theo nhóm người: trẻ em có khả năng dứt HCV chừng 50%; người có triệu chứng có khả năng tự thanh toán HCV (cure) cao hơn người không triệu chứng (asymptomatic cases). Sau 20 năm, 20% bịnh nhân sẽ bị xơ gan, chai gan (liver fibrosis, cirrhosis), nhất là những bịnh nhân phái nam, uống rượu nhiều và mắc bịnh sau 40 tuổi. Lúc bịnh mới bắt đầu, trong thời kỳ cấp tính, bác sĩ định bịnh HCV bằng cách phát hiện RNA (ribonucleic acid) của HCV trong máu bịnh nhân (có thể phát hiện được vài ngày cho đến vài tuần sau khi bị nhiễm với phương pháp PCR [Polymerase Chain Reaction]), sau đó nếu phát hiện thêm được kháng thể (antibodies) chống HCV, thì xác định bịnh. Theo hướng dẫn mới nhất của Canada (Canadian Association for the Study of the Liver, 2018) xét nghiệm kháng thể chống HCV là xét nghiệm chẩn đoán được lựa chọn để sàng lọc ban đầu (initial screening). Nếu dương tính, xét nghiệm phản ứng chuỗi HCV RNA polymerase xác nhận là cần thiết để xác nhận nhiễm trùng mãn tính. Ở những người mà siêu vi từng bị thanh toán tự phát (spontaneous clearance) hoặc do điều trị trước đó và những người nghi ngờ nhiễm trùng cấp tính (acute infection), HCV RNA là xét nghiệm sàng lọc được lựa chọn vì xét nghiệm kháng thể kháng HCV vẫn dương tính suốt đời một khi đã nhiễm virus, ngay cả sau khi thanh toán HCV tự phát hoặc do điều trị. Những nhóm tại Canada sau đây nên screen thử HCV: 1) Những người sinh giữa 1945-1975 2) Các yếu tố cơ nguy: -Bệnh sử có sử dụng ma túy hiện tại hoặc trong quá khứ (thậm chí một lần) -Nhận dịch vụ chăm sóc sức khỏe hoặc dịch vụ cá nhân ở những nơi thiếu các biện pháp phòng ngừa và kiểm soát nhiễm trùng -Nhận được truyền máu, các sản phẩm máu hoặc cấy ghép nội tạng trước năm 1992 tại Canada -Trong quá khứ hoặc hiện tại bị giam giữ -Sinh ra hoặc cư trú tại khu vực có tỷ lệ mắc viêm gan C> 3%, như: Trung, Đông và Nam Á; Australasia và Châu Đại Dương (Oceania); Đông Âu; Tiểu vùng Châu Phi dưới sa mạc Sahara; Bắc Phi hoặc Trung Đông -Con của người mẹ bị nhiễm HCV -Bệnh sử quan hệ tình dục hoặc chia sẻ vật phẩm chăm sóc cá nhân với người bị nhiễm HCV -Nhiễm HIV, đặc biệt là nam giới có quan hệ tình dục với nam giới -Điều trị chạy thận nhân tạo mãn tính -Mức alanine aminotransferase trong máu tăng cao quá mức bình thường Chữa trị: Vì một số đáng kể bịnh nhân HCV cấp tính sẽ tự mình khắc phục được bịnh, bác sĩ điều trị chỉ chữa bằng thuốc nếu thấy cần, sau khi quan sát một thời gian (ví dụ 12 tuần), xét tình trạng sức khỏe người bịnh, và xét các yếu tố cơ nguy bịnh trở thành mãn tính. Trước đây (1991-2014) thuốc chính là interferon hay pegylated interferon (chích) (peginterferon , “Pegintron”) trong nhiều tuần. Interferon kích thích các tế bào phòng thủ sản xuất kháng thể nhiều hơn. Thuốc có thể gây những biến chứng quan trọng (mắt, máu, phổi). Chừng 50% bịnh nhân được chữa khỏi HCV. Mấy năm gần đây (sau 2014) một số thuốc uống, ( “DAA”=Direct Acting Antivirals) được FDA chấp nhận dùng chữa bịnh viêm gan C, nhưng rất đắt tiền : ví dụ : Sovaldi (sofosbuvir, FDA approved 12-2013, Gilead Sciences; giá 1000 đô la một viên và tốn 84.000 đô la cho 12 tuần), Harvoni (sofosbuvir-ledipasvir); giá 94,500 dollars cho 12 tuần (thuốc ức chế men RNA polymerase cần cho virus sinh tồn, approved for a HCV types 1,4,5,6). Ở Mỹ giá mà các cơ quan bảo hiểm hay chính phủ Medicare, Medicaid) phải trả cho thuốc có thể thấp rất nhiều hơn giá chính thức này (wholesale acquisition price), tùy theo các thương lượng giữa nhà thuốc và các cơ quan đài thọ cho chi phí. Tuy nhiên giá sản xuất cho nhà thuốc (production cost) lại còn thấp hơn rất nhiều. Để sản xuất những viên thuốc sofosbuvir dùng trong 12 tuần lễ này có thể nhà sản xuất chỉ tốn kém chừng trên dưới 100 đô la Mỹ. Giá gần 100.000 đô la niêm yết cho những viên thuốc này được nhà sản xuất giải thích là họ phải tính vào đó những chi phí về nghiên cứu và phát triển để tìm ra những thứ thuốc như vậy. Năm 2018 ở Việt Nam tại Hải Phòng có một chương trình khảo cứu trên lâm sàng về chữa trị viêm gan C. Công trình khảo cứu này dùng những thuốc sau đây để chữa bệnh viêm gan C bệnh viêm gan được bảo trợ bởi Viện y tế quốc gia của Pháp và quốc gia về khảo cứu Bệnh HIV và bệnh gan của Pháp.(French National Institute for Health and Medical Research-French National Agency for Research on AIDS and Viral Hepatitis (Inserm-ANRS) Drug: Sofosbuvir 400 mg and Daclatasvir 60 mg Drug: Sofosbuvir 400 mg and Daclatasvir 90 mg Drug: Ribavirin Drug: Sofosbuvir and Daclatasvir for 24 weeks (https://clinicaltrials.gov/ct2/show/NCT03537196) Nói chung sau khi nhiễm virus gan C, trong sáu tháng đầu, chừng 25 % (10-50%) bệnh nhân có khả năng tự hồi phục. Sau đó điều trị bệnh viêm gan C do các bác sĩ chuyên môn về bệnh nhiễm hay bệnh gan phụ trách. Những cơ quan hướng dẫn chuyên môn về bịnh gan ( như European Association for the Study of the Liver, the American Association for the Study of Liver Disease and Infectious Disease Society of America, Canadian Association for the Study of the Liver) đã phát triển những phác đồ điều trị khá phức tạp tùy theo hoàn cảnh y tế và dân số của mỗi vùng để các bác sĩ chuyên môn áp dụng cho những tình huống khác nhau về đặc điểm di truyền của Virus (genotype of HCV), về các biến chứng đã xảy ra như xơ gan (fibrosis, cirrhosis ), cơ năng gan của người bệnh. Nói chung thuốc được dùng trong vòng 3-6 tháng và kết quả khả quan. Theo WHO, Việt Nam đang phát triển một chương trình chữa bệnh viêm gan C. Chưa thể tìm thấy là phác đồ điều trị sẽ áp dụng ở Việt Nam như thế nào và không thể trả lời câu hỏi của vị thính giả hỏi về tên thuốc chữa trị viêm gan C mà có thể vị thính giả đã được đề nghị dùng chữa bệnh. Nói cách khác hiện nay có rất nhiều thứ thuốc khác nhau dùng trong việc chữa bệnh viêm gan C đòi hỏi kỹ năng của người điều trị điều trị và cũng đòi hỏi một nguồn tài chánh rất cao vì những thuốc này rất đắt tiền. Tốt hơn hết bệnh nhân nên hỏi các bác sĩ chuyên môn về bệnh gan C và có khả năng cung cấp cho mình những thuốc cần thiết, có thể là được tài trợ bởi chính phủ Việt Nam, bởi các cơ quan bảo hiểm y tế hay là các cơ quan y tế quốc tế ví dụ như WHO. References; 1)The management of chronic hepatitis C: 2018 guideline update from the Canadian Association for the Study of the Liver http://www.cmaj.ca/content/190/22/E677 2) Cost and Access to Direct-Acting Antiviral Agents https://www.hepatitisc.uw.edu/pdf/evaluation-treatment/cost-access-medications/core-concept/all 3) A Brief History of Hepatitis http://www.cevhap.org/index.php/en/about-viral-hepatitis/a-brief-history-of-hepatitis Bác sĩ Hồ Văn Hiền Ngày 27 tháng 2, 2019 Quý vị có thể xem và nghe lại các bài giải đáp trên mạng Internet ở địa chỉ voatiengviet.com Quý vị muốn được giải đáp các thắc mắc về những vấn đề y học thường thức, xin gọi đến số (202) 205-7890, hoặc E-mail đến địa chỉ .