TOP TRAVEL SITES

The Points GuyTime OutAtlas ObscuraTrip SavvyLonely PlanetTravel + LeisureTravel ChannelBoardingAreaOutside MagazineConde Nest TravelerFodor'sSmarterTravelRick Steves' EuropeFrommer'sOutdoor LifeBackpackerSunsetMidwest LivingAfarRough GuidesCoastal LivingSkiftIslands

TOP HEALTH & FITNESS SITES

National Institutes of HealthWebMDHealthlineLIVESTRONG.COMMayo ClinicPsychology TodayMedscapeMen's HealthEverydayHealth.comMercolaMen's FitnessVery WellGreatistShapePreventionSelfHealthWomen's HealthRunner's WorldMindBodyGreenWell & GoodMuscle & FitnessFitness MagazineDoctor Oz

Mỗi năm, hàng trăm phụ nữ Nga có thai đến Hoa Kỳ sinh con để con họ có thể được hưởng tất cả các đặc quyền mà quốc tịch Mỹ mang lại.
 
Thính giả Thuan Bui hỏi: Thưa Bác sĩ, Tôi có em trai 23 tuổi bị co giật cơ ở cổ, co giật không ý thức. Xin hỏi làm thế nào để trị bệnh này ạ. Cảm ơn Bác sĩ” Bác sĩ Hồ Văn Hiền trả lời: Theo nguyên tắc, chúng ta không thể có ý kiến về một trường hợp cá biệt. Về từ ngữ: fasciculation gốc chữ fascia, nghĩa là một chùm, một bó, ở đây, nói về một bó sợi cơ (fasciculus,a bundle of muscle fibers). Mỗi sợi cơ là một tế bào riêng rẻ, hình dài; có bắp cơ (muscle) chứa hàng ngàn sợi cơ, có bắp cơ chỉ có vài chục sợi cơ. Lúc có dòng điện từ các dây thần kinh kích thích, các sợi cơ sẽ co vào trong một thời gian rồi giãn ra. 1)Trong chứng giật cơ (fasciculation, muscle twitching), một nhóm sợi cơ co giật mà mình không kiểm soát được, chứ không phải toàn cơ bắp, ở những cơ bình thường mình cử động theo ý muốn. Những nơi thường xảy ra là mí mắt, cánh tay, cẳng chân , bàn chân. Đặc biệt là các cơ không bị liệt, hay bị yếu đi. Những nguyên nhân làm co giật vài nhóm sợi cơ lẻ tẻ thường gặp: -uống quá nhiều cà phê, có chứa cafein, -sau khi thể dục, thể thao nhọc nhằn, -thiếu calcium, magnesium trong máu, thiếu vitamin D, -cơ chung quanh mắt có thể giật vì chính trong mắt bị bệnh hay làm cho khó chịu. Một số thuốc (vd: Dramamine (dimenhydrinate); Sudafed (pseudoephedrine); Ritalin (methylphenidate); Benadryl dùng lâu dài; morphine lúc cai thuốc) có thể gây ra co giật bó sợi cơ. Thường bịnh tự khỏi sau vài ngày. Ngưng thuốc gây co giật sợi cơ. Nếu cần uống thêm calcium, magnesium (200-500mg/ngày, có thể làm phân lỏng).Thư giãn, massage các cơ, tập thở theo kiểu thiền. Nếu cần thiết, có thể cho dùng thuốc giảm viêm mạnh như prednisone, thuốc giãn cơ như Carisoprodol (Soma)(dùng ngắn hạn; làm bớt tỉnh táo, buồn ngủ; có thể gây nghiện) Nếu co giật chung quanh mắt cần bác sĩ khám xem mắt có vấn đề gì hay không và chữa trị nguyên nhân đó. 2) Benign fasciculation syndrome" (BFS), tạm dịch là “Hội chứng rung giật cơ lành tính". Trong trường hợp này, các cơ co giật xảy ra liên tục hay thường xuyên, đột ngột, mãn tính và ảnh hưởng đến phẩm chất cuộc sống, đi kèm theo với nhiều triệu chứng khác (nên mới gọi là hội chứng); và không tìm được nguyên nhân. Bác sĩ cần loại bỏ các lý do có thể gây co giật cơ trước khi quyết định đây là một bịnh "không rõ nguyên do" (essential). Các triệu chứng khác: -mệt mõi, -đau nhức cơ bắp, -lo âu, -yếu , mau mệt, co rút bắp thịt, -cảm thấy nghẹn họng (globus sensation, như có cục gì trong họng), -ngứa, -rung tay chân (tremor), -cơ cứng, co rút, -tăng các phản xạ gân xương (hyperreflexia). Nguyên nhân: Chưa hiểu rõ, có thể ở các sợi cơ, các tế bào thần kinh vận động hay nơi tiếp xúc giữa tế bào thần kinh và cơ. Định bịnh BFS: Căn cứ trên triệu chứng lâm sàng. Bác sĩ cần chắc chắn là các cơ không bị liệt hay yếu. Cần loại bỏ trường hợp thiếu Calci, Magnesium, vitamin D, liên hệ tới việc dùng thuốc. BFS khác với những trường hợp mà fasciculation có thể là thành phần một số bịnh làm bại liệt mà nguyên nhân nằm ở các tế bào thần kinh vận động của tủy sống (MND : motor neuron disease). -Như bịnh ALS (amyotrophic lateral sclerosis) cũng có fasciculation nhưng triệu chứng chính là các cơ bị teo và bắt đầu ở hai chân bị yếu, hay đi vấp ngã; bịnh nhân chỉ sống được vài năm. Trong cơ điện đồ (EMG) của ALS, có dấu hiệu dây thần kinh bị hư hại, có thể có fasciculation trong EMG (nhưng không đặc thù cho bịnh này), do đó dễ gây lẫn lộn giữa benign fasciculation syndrome (bịnh hiền, EMG bình thường) và ALS. -Một số bịnh hiếm hơn nguyên nhân do bịnh tự miễn nhiễm (Stiff Person Syndrome), hay bịnh di truyền (spinal muscle atrophy). -Bịnh nhiễm như bịnh dại. Chữa trị: - Giảm stress; chữa rối loạn lo âu (Vd: Sertralin [Zoloft]), amitriptyline [Elavil]) - Một số thuốc dùng chữa bịnh rung vô căn (essential tremor) : beta blocker, thuốc chống co giật (anticonvulsivant) cũng được dùng cho BFS. Propanolol là thuốc ngăn chặn tác dụng kích thích của loại neurotransmitters như adrenaline (chất tiết tuyến thượng thận). Phản ứng phụ: mệt mỏi, nghẹt mũi, tim đập chậm, không dùng cho người bị suyễn. Primidone, là một thuốc chống động kinh. Có thể làm buồn ngủ, lờ đờ, buồn nôn, mất thăng bằng. Gabapentin (Neurontin) chủ trị động kinh. -Tránh cà phê, thuốc lá. -Sống lành mạnh điều độ; tập thể thao, thể dục, thiền, đọc kinh, yoga; ngủ đủ giờ, tránh thức khuya, ăn ngủ bất thường, stress. Dự hậu: Đa số bịnh nhân thuyên giảm với thời gian. Chữa bịnh lo âu (anxiety) là yếu tố quan trọng nhất. Có khi bịnh nhân tự khỏi bịnh (spontaneous remission). Nếu bác sĩ không chắc chắn là bịnh BFS mà có thể có dấu hiệu của các bịnh tế bào thần kinh vận động (motor neuron disease) (như teo cơ, liệt, yếu cơ), bác sĩ sẽ cần theo dõi bịnh nhân theo định kỳ, bịnh nhân cần cho bs biết nếu thấy triệu chứng nặng thêm, hay có triệu chứng mới xuất hiện; với thời gian có thể sẽ kết luận dứt khoát hơn. Theo những tài liệu tôi tìm được, không thấy có liên hệ giữa chứng động kinh và đột quỵ với bịnh BFS. Những nhận xét trên đầy hoàn toàn tổng quát, trong mục đích thông tin. Bịnh nhân cần được bác sĩ khám và hướng dẫn. Chúc bịnh nhân may mắn. Bác sĩ Hồ Văn Hiền Ngày 3 tháng 2 năm 2019 Quý vị có thể xem và nghe lại các bài giải đáp trên mạng Internet ở địa chỉ voatiengviet.com Quý vị muốn được giải đáp các thắc mắc về những vấn đề y học thường thức, xin gọi đến số (202) 205-7890, hoặc E-mail đến địa chỉ .
 
Trong Thông điệp Liên bang đọc hôm 5/2, Tổng thống Hoa Kỳ Donald Trump kêu gọi ngăn chặn việc phá thai trong giai đoạn cuối của thai kỳ
 

Chứng lo âu ở thanh thiếu niên

Thính giả Bích Ngọc hỏi: Con 15 tuổi. Con hay bị hồi hộp, tim đập nhanh, cơ chân, ngực, bụng hay giật khoảng vài giây, đặc biệt khi con căng thẳng giải bài tập; đặc biệt khi nằm xuống cả ngực và bụng đều đập mạnh một tí rồi hết, lâu lâu thấy tức chỗ ở giữa trên ngực. Con bị đã 2 tuần hơn. Mấy ngày đầu con đi khám, bác sĩ nói con bị hệ thần kinh tự quản, cho thuốc uống 5 ngày về nhà. Uống thuốc đỡ, nhưng hết thuốc con không uống nữa, Con đang thi học kỳ nên tình trạng hay xảy ra lắm. Mong Bác sĩ cho con lời khuyên và cách điều trị. Cảm ơn Bác sĩ” Bác sĩ Hồ Văn Hiền trả lời:  Thính giả đặt câu hỏi mới 15 tuổi, rất tiếc bác sĩ không thể có ý kiến trực tiếp với cháu được về vấn đề sức khỏe. Cháu cần sự hướng dẫn và cho phép của phụ huynh khi tham khảo ý kiến chuyên môn. Tuổi 15 là lứa tuổi về thể chất người con gái (ít lắm là ở Mỹ) gần như đã trưởng thành và bắt đầu suy nghĩ về việc sống một mình sẽ như thế nào, lúc lên đại học sống tự lập, có phòng, căn hộ riêng. Lúc này, bắt đầu quan hệ với các thiếu niên khác, đôi khi quan hệ tính dục, thêm vào những ưu tư về ngoại hình (đa số lo mình quá mập, ăn kiêng) và về điểm số trong trường. Đó là chưa kể ảnh hưởng của các hormon trong chu kỳ kinh nguyệt, ví dụ người thiếu nữ sẽ có những triệu chứng như đau bụng, nhức đầu, sình bụng, mệt mỏi, tiêu chảy, bón, giảm trí nhớ, bực bội , nóng nảy, hồi hộp, những triệu chứng này giống và có thể được gán cho "hệ thần kinh tự dưỡng", tuy nguyên nhân chính là các hormon thay đổi trong 1-2 tuần trước khi có kinh. Người thiếu nữ có chiều hướng giảm bớt các xung đột với cha mẹ, có trách nhiệm hơn, và chịu khó tôn trọng kỷ luật khi một số quyền lợi đi đôi với việc người con tôn trọng một số luật lệ cha mẹ đặt ra. Do hoàn cảnh của cuộc sống tương đối độc lập hơn trước, người thiếu nữ có thể cảm thấy bị áp lực nhiều hơn, do đó lo âu nhiều hơn, và có thể cảm thấy cô đơn hơn nếu họ không có phụ huynh hay người lớn tuổi hơn đứng ra hướng dẫn hay làm chỗ dựa giúp mình giải quyết các mối lo đó. Các mối lo âu không được giải toả sẽ ngấm ngầm thể hiện bằng những triệu chứng cơ thể mà lúc đó cha mẹ sẽ nhờ đến bác sĩ giải quyết; bác sĩ sẽ có khuynh hướng biên toa để chữa các triệu chứng vật thể này mà không giải quyết nguồn gốc tâm lý, tinh thần, xã hội gắn liền với giai đoạn phát triển của bịnh nhân. Cho sau đây nên chúng ta sẽ bàn chi tiết hơn về khía cạnh này. Tôi chỉ xin giới hạn vào một số kiến thức tổng quát về chứng lo âu ơ thanh thiếu niên để chúng ta cùng học hỏi. Lo âu (anxiety) thường xảy ra ở thanh thiếu niên với các triệu chứng tâm thể (psychosomatic symptoms) của nó như "hồi hộp, tim đập nhanh, cơ chân, ngực, bụng hay giật khoảng vài giây","nằm xuống cả ngực và bụng đều đập mạnh một tí rồi hết, lâu lâu thấy tức chỗ ở giữa trên ngực". Lúc người bịnh bất an về tinh thần, tâm lý và sự bất an này biểu hiện qua những triệu chứng thể chất, chúng ta gọi hiện tượng này là "somatization". Hiện tượng này có thể biểu hiện qua những bất quân bình trong hệ thần kinh tự dưỡng (tk "tự quản" theo từ ngữ của thính giả; autonomic nervous system) như tay chân lạnh (vì các động mạch ngoại biên co lại), tim đập nhanh, mồ hôi toả ra, ói mửa, bón...nhưng rối loạn chính nằm ở tình trạng tâm lý xáo trộn của bịnh nhân (psychological distress). Đa số các cháu chỉ cần sự hướng dẫn của người lớn giúp các cháu hiểu thêm về nguồn gốc của mối lo, hướng dẫn các cháu khắc phục các nỗi lo âu (ví dụ giúp tổ chức công việc, làm bài, nhờ thầy dạy thêm), thông cảm và vỗ về các cháu, giúp các cháu trong quá trình phát triển thành một người lớn làm việc có phương pháp hơn, tự tin hơn với tầm nhìn xa hơn là một người trong tuổi thiếu niên. - Chứng lo âu là một phản ứng của cơ thể đứng trước một mối nguy cảm nhận hay có thật hay một biến cố quan trọng. Ví dụ chuẩn bị đi thi, kỳ thi quyết định cho thành quả năm học, khoá học, có thể đưa đến việc bị cha mẹ trừng phạt, ở lại lớp, hay bạn bè chế nhạo nếu thất bại. Lo âu là một hình thức báo động và giúp cho chúng ta ở tình trạng cảnh giác để ứng phó, giúp chúng ta tránh một sự đe doạ ví dụ tránh xe đụng nơi đông xe cộ, hay giúp chúng ta chuẩn bị để có thể thực hiện với thành quả tốt nhất. Đây là một tình huống thường gặp và không kéo dài. Trái lại, rối loạn lo âu được định bịnh lúc nó kéo dài trên 6 tháng, dai dẳng và cao độ, ảnh hưởng đến cuộc sống hàng ngày. Trên lý thuyết, chúng ta là "con người khôn ngoan' (homo sapiens) đã tiến hoá chừng 2 triệu năm, xa nguồn gốc thú vật. Nhưng trên thực tế, trên căn bản, hiện nay cách cơ thể chúng ta hiện nay phản ứng với lo âu lúc người trẻ đi thi tốt nghiệp trung học cũng không khác gì lắm với lúc một thiếu niên lúc lần đầu phải ra khỏi hang động đối phó với con chó sói lần đầu tiên mấy ngàn năm trước lúc loài người còn sơ khai. Lo âu tác dụng trên: - Tư tưởng: chúng ta nghĩ đến những đe dọa có thể xảy đến - Cơ thể: con ngươi nở lớn, nhìn thấy sáng hơn, hoặc mờ hơn, tim đập nhanh và mạnh hơn, các cơ bắp căng thẳng. Thở nhanh hay thở mạnh (sâu) có thể làm mình chóng mặt, lâng lâng, không bình tĩnh. Các động mạch ở phần xa của cơ thể như các ngón chân, bàn chân, bàn tay co lại, giành máu ưu tiên dồn về các cơ bắp lớn ở đùi để chạy khỏi nơi nguy hiểm. Những biến chuyển trên được thực hiện qua sự gia tăng tác động của hệ thần kinh giao cảm (sympathetic). Trong lúc đó, phần đối nghịch là hệ thần kinh đối giao cảm (parasympathetic) như tiêu hoá trong dạ dày và nhu động ruột bị ức chế lại, chậm lại. Bịnh nhân có thể tiêu hoá chậm lại, thấy khó tiêu, xót ruột vì dịch acid tích tụ kéo dài trong dạ dày. - Hành vi, thái độ: chống trả, chạy trốn hay "chết đứng" Phản ứng đối với stress này gọi là "fight or flight/freeze response", có thể dịch thành "đánh, tránh quýnh". Ví dụ, một thanh niên có thể gây lộn, làm dữ với bố mẹ ép buộc mình phải thi vào y khoa lúc mình không muốn hay cảm thấy không đủ khả năng (fight/chống trả). Một thanh niên khác có thể tránh buổi khiêu vũ vì lo mình vụng về , có thể bị chê cười (tránh/flight). Hay 'lặng người", "chết đứng” lúc bị thầy giáo truy bài (freeze). Các biện pháp đối phó với sự sợ hãi: 1) Nhận diện các mối sợ của mình, gây lo âu, có thể lập một danh sách Mỗi mối sợ có thể chia ra nhiều mức khác nhau ("thang sợ"/ “fear ladder) và đối diện (phơi nhiễm/ exposure với mối gây sợ): ví dụ sợ phải nói trước công chúng có thể làm quen từ từ: nói trước người bạn>nói trước thầy giáo>nói trước thầy giáo và cả lớp. Tập dần dần từ dễ đến khó để từng bước đạt đến mục đích. Cũng như lái xe: ngồi đề máy trong sân với mẹ>tập de xe, lái xe trong khu phố> lái ra đường lớn hơn lúc vắng cuối tuần> lái ngày thường>ra xa lộ...) 2) Suy nghĩ đúng: Kiểm soát tư tưởng của mình, hướng về phía xây dựng hơn: Ví dụ trước kỳ thi, thay vì nghĩ đến "thi rớt, cha mẹ rầy la, bạn bè chê cười, suốt đời phải đi rửa chén, không nghề ngỗng gì cả", làm mình cáu kỉnh, đốp chát với cha mẹ, nhức đầu, đau bụng, mất ngủ. Nên lý luận với mình như thế này " Mình đang lo về cái vụ thi cử này đây, đúng như vậy; nhưng như vậy có nghĩa đây là một việc quan trọng, và mình nhất quyết làm tốt. Mình học bài rất kỹ rồi, và ngày mai mình sẽ làm hết khả năng. Mình sẽ không để cho sự lo âu cản đường đi đến thành công.” 3) Những biện pháp có thể thực hiện được gồm: - Tập thở đều đặn, chậm - Tham gia các lớp dạy chánh niệm (mindfulness), thiền định. Phương pháp chánh niệm quen thuộc với người Việt giúp ý thức về giây phút hiện tại là một phương tiện hữu hiệu giải toả tình trạng lo âu. Phương pháp này (mindfulness) được nhắc đến và thực hành nhiều ở Mỹ (“experiencing the present moment”). - Hiển thị (visualization), tập thở đều đặn, tưởng tượng như mình ngồi trước một bờ biển, cảnh núi non, tập thở đều đặn và tập trung vào việc thở, hít qua mũi và thở ra miệng từ từ. Cuối bài viết, tôi có tạm dịch bài script (kịch bản, trong trang AnxietyCanada) hướng dẫn học trò hiển thị phòng thi để giảm bớt lo âu trước khi đi thi, hay kiểm tra. Một người lớn đọc script để hướng dẫn người sắp đi thi trong vài phút tĩnh tâm.(1) Ngoài ra, nên để ý về vệ sinh cuộc sống: 1) Ngủ đủ giờ, tránh thức khuya quá đáng, tránh ồn ào, tránh ô nhiễm ánh sáng nơi ngủ (các đèn điện tử, TV chạy suốt đêm) 2) Tránh hút thuốc, các chất kích thích, soda (nước ngọt có cafein) 3) Vận động cơ thể thường xuyên (exercise) 4) Ăn uống lành mạnh, không quá nhiều đường, nhiều thức ăn chế biến, ăn rau quả, trái cây đầy đủ. 5) Đối với giới trẻ hiện nay, internet, nhất là các trang mạng xã hội như Facebook, Tweeter là một nguyên nhân quan trọng gây stress và lo âu, do áp lực của nó trên tâm hồn còn non trẻ, dễ bị ảnh hưởng của lứa tuổi thanh thiếu niên. Nên điều độ, giảm giờ trên mạng xã hội, và dành nhiều giờ hơn cho sinh hoạt với gia đình, thể thao thể dục. Đối với thanh thiếu niên, vai trò hỗ trợ và hướng dẫn của cha mẹ, phụ huynh, thầy cô, các cố vấn trong trường học các vị hướng dẫn tôn giáo, rất cần thiết để giúp các em hiểu hơn về những khó khăn, thách thức làm mình lo âu, gây nên những biểu hiện trên cơ thể như nhức đầu , đau bụng , mệt mỏi. Những trường hợp kéo dài, ảnh hưởng đến nếp sống, học hành của các em cần các chuyên gia về tâm lý, bác sĩ tâm thần can thiệp. Nếu rất cần, bác sĩ mới dùng đến thuốc men để chữa bịnh (thuốc an thần, thuốc chống trầm cảm) và theo dõi cẩn thận. Thuốc trị bịnh tâm thần (psychotropic drugs) cần được đắn đo kỹ lưỡng trước khi dùng cho các em còn non nớt, trong quá trình phát triển cả thể chất lẫn tinh thần. Đáng chú ý hơn hết là một số thuốc chống trầm cảm cho thanh thiếu niên có tác dụng gây tự tử nhiều hơn, do đó, bác sĩ cần theo dõi kỷ và bịnh nhân phải uống thuốc hay ngưng thuốc theo đúng hướng dẫn của bác sĩ chuyên môn. Tập thở/ Hiển thị đối phó với lo âu trước khi thi test (Test Anxiety Visualization) (Gợi ý cho người đọc to kịch bản cho thanh thiếu niên: • Khi đọc kịch bản, hãy nói chậm, giọng bình tĩnh và êm dịu. • Tạm dừng sau mỗi hướng dẫn để có đủ thời gian thi hành. • Đừng để ứng viên quá căng thẳng, có cảm thấy căng trong cơ bắp nhưng không tới mức đau. Ứng viên nên căng từng cơ bắp khoảng 5-8 giây trước khi giãn cơ bắp.) Kịch bản (script): 1. Bạn (con, em) nhắm mắt nhẹ nhàng và thoải mái. Đừng đãng trí trong mấy phút sau đây. Hãy dùng khoảng thời gian này để tập trung và thư giãn. Để ý một số các khu vực chính trong cơ thể của bạn, những nơi căng thẳng gia tăng. Scan cơ thể của bạn bây giờ để tìm những những vùng căng thẳng. Cứ mỗi vùng, hãy tưởng tượng hướng hơi thở của bạn đến khu vực đó. Vai, tay, lưng, cổ và hàm của bạn. Hãy tưởng tượng như hít thư giãn vào ... và thở hết sự căng thẳng ra ngoài. Hít một cảm giác thư giãn và thở ra tất cả sự căng thẳng. Cảm thấy cơ bắp của bạn thư giãn với mỗi hơi thở. 2. Bắt đầu thư giãn cơ thể. Hít một hơi thật sâu vào, giữ nó nhẹ nhàng ... và thả nó ra Hít vào một lần nữa ... tạm dừng ... và thở hết ra Thở vào...tạm dừng ... vào... ra ...vào ... ra... 3 Giữ nhịp thở tự nhiên. Với mỗi hơi thở, bạn càng trở nên thoải mái hơn. Nếu còn vướng suy nghĩ lo lắng nào, hãy mặc kệ để nó, sẽ tính sau. (Tạm ngừng.) 4 Bây giờ bạn đang cảm thấy bình tĩnh và thư giãn. Toàn bộ cơ thể bạn cảm thấy thư giãn và nặng nề. 5 Bây giờ bắt đầu tưởng tượng ngồi xuống để viết một bài kiểm tra. Bạn cảm thấy rất có động lực để học cho kỳ thi này và làm tốt. Hoàn toàn tưởng tượng cảm giác này, và cho phép mình trải nghiệm nó hoàn toàn. Cảm thấy mình có nhiều cảm hứng.. (Tạm ngừng.) 6 Bạn mong muốn làm bài kiểm tra này và làm tốt. 7. Bây giờ hãy tưởng tượng mình vào phòng thi. Bạn đang cảm thấy một chút phấn khích làm bài kiểm tra và chia sẻ những gì bạn biết với giáo viên của bạn; đồng thời, bạn cảm thấy tự tin. Bạn tưởng tượng đi bình tĩnh vào lớp và ngồi xuống. Khi bạn bước vào lớp, bạn nói với chính mình, khi tôi đến ghế của mình, mình sẽ chỉ tập trung vào bài kiểm tra dù cho mình cảm thấy lo lắng. 8. Bạn thấy mình ngồi trên ghế. Bạn nhận thấy những gì diễn ra xung quanh bạn. Bạn nghe các sinh viên khác lao xao về chỗ ngồi. Bạn mỉm cười với họ. Bạn sờ thấy mặt bàn gỗ cứng. Bạn cảm thấy cây bút cầm trong tay. Bạn thấy giáo viên phát bài kiểm tra. Bạn cảm thấy một chút lo lắng cũ tăng lên. Bạn nói với chính mình: Nó chỉ là nỗi lo lắng của mình thôi; mình có thể đối phó với nó. Nó sẽ không ngăn mình làm bài kiểm tra này." 9. Bây giờ, bài kiểm tra đang ở trước mặt bạn trên bàn. Hãy tưởng tượng scan qua toàn bộ bài kiểm tra một cách bình tĩnh và tự tin. Bạn khám phá ra rằng bạn đã biết ít nhiều về mỗi câu trả lời và bạn cảm thấy đã sẳn sàng. Bạn cảm thấy thư thái, vui vẻ. Bạn bắt đầu tổ chức thời gian. Bạn tự nhủ, tôi sẽ tiếp tục suy nghĩ một cách bình tĩnh và không để nỗi lo lắng của mình xâm chiếm. Mình đã làm nhiều bài kiểm tra trước đây và không có lý do gì mình không làm được ngày hôm nay. Đây là cơ hội để mình chứng tỏ những gì mình biết. 10. Hít một hơi thật sâu, thật chậm và thở ra hết. Tốt. Bạn cảm thấy cơ thể thư giãn và cho phép tâm trí của bạn trở nên bình tĩnh. Trong trạng thái bình tĩnh này, bạn có thể tập trung vào bài kiểm tra và nhìn thấy mọi thứ rõ ràng. Bây giờ bạn bắt đầu viết câu trả lời cho từng câu hỏi. Bạn có thể nhớ những gì bạn đã học. Các câu trả lời và ý tưởng đang đổ ra dễ dàng lên các trang giấy. Một số câu hỏi rất dễ và đơn giản, và bạn trả lời chúng nhanh chóng. Một số câu hỏi suy nghĩ nhiều hơn. Bạn biết sẽ có những câu khó hơn này, và bạn đã chuẩn bị. Bạn cố gắng hết sức và tìm cách thể hiện những gì bạn biết. 11. Bây giờ bạn đã hoàn thành và bạn làm bài kiểm tra của bạn. Bạn cảm thấy vui và tự hào. Bạn nói với chính mình " Tôi đã làm xong việc mà không bị khớp. Tôi đã không để nỗi lo lắng của mình xâm chiếm". Tận hưởng cảm giác thành công. (Tạm ngừng.) 12. Bây giờ bạn đã hoàn thành hiển thị việc chuẩn bị kiểm tra, bạn cảm thấy bạn được chuẩn bị tốt hơn cho quá trình làm bài kiểm tra. Bạn tự tin rằng bạn sẽ có thể kiểm soát sự lo lắng của bạn và tập trung vào bài kiểm tra. Bạn bình tĩnh, tự tin, và giành quyền chủ động. 13 .Từ từ bắt đầu trở về phòng ... trả lại nhận thức của bạn cho thời gian hiện tại. Ngọ nguậy ngón tay của bạn. Ngọ nguậy ngón chân của bạn. Cảm thấy bàn tay và cánh tay của bạn thức dậy. Quay của bạn đầu từ bên này sang bên kia ... cảm thấy cơ thể bạn thức dậy. 14. Khi bạn cảm thấy tỉnh táo, linh hoạt, bạn có thể trở về các hoạt động thông thường của mình, cảm thấy tràn đầy năng lượng, động lực và tự tin. Bác sĩ Hồ Văn Hiền Ngày 8 tháng 2 năm 2019 Reference: https://youth.anxietycanada.com/sites/default/files/scripts/Test%20Anxiety%20Visualization%20Script.pdf   Quý vị có thể xem và nghe lại các bài giải đáp trên mạng Internet ở địa chỉ voatiengviet.com Quý vị muốn được giải đáp các thắc mắc về những vấn đề y học thường thức, xin gọi đến số (202) 205-7890, hoặc E-mail đến địa chỉ .
 
Thính giả Hong A hỏi: Thưa Bác sĩ,  Tôi thường bị rát lưỡi từ 4 năm nay. Tôi ăn uống thì bình thường không rát; không ăn uống thì rát. Ăn cay hay mặn cũng không rát mà có cảm giác ngon miệng. Vậy tôi xin hỏi Bác sĩ nguyên nhân nào, hay thiếu chất gì. Cảm ơn Bác sĩ” Bác sĩ Hồ Văn Hiền trả lời:  Có nhiều bịnh có thể gây rát, đau lưỡi, những nguyên nhân dễ phát hiện nhất như loét lưỡi, bịnh nấm ở lưỡi, ung thư ở lưỡi được cần được bác sĩ nghĩ tới và thu thập đủ dữ kiện (như hỏi bịnh sử, ví dụ người hút thuốc lá hay không; khám thấy có tổn thương gì trên niêm mạc miệng hay không, làm sinh thiết/biopsy nếu khả nghi) để xác nhận hay loại bỏ các chẩn đoán này. Tất nhiên, tôi không thể định bịnh hay tư vấn cho một bịnh nhân cá biệt được, và cũng như mọi khi, lúc quý vị thính giả đưa ra một trường hợp như bịnh này, chúng ta chỉ có thể xem đây như là một cơ hội để chúng ta học hỏi thêm về một số tin tức trong y văn hiện nay, có thể có mà cũng có thể không liên hệ trực tiếp đến trường hợp chúng ta đang bàn. Sau đây tôi xin bàn về Hội chứng Rát Miệng (Burning Mouth Syndrome, BMS), hay còn gọi là Bịnh “đau lưỡi” (glossodynia, glossa=lưỡi, odyna=đau). Đại đa số bịnh nhân là nữ (tỷ lệ 7/1 cho đến 31/1), đa số ở người phụ nữ đã tắt kinh, và có những triệu chứng khác của thời sau khi nghỉ kinh (postmenopausal). Phụ nữ gốc Á châu cũng như người Da Đỏ dễ mắc chứng này hơn. Triệu chứng: 1) Vị trí: đau ở 2 bên lưỡi; ít gặp hơn: ở vòm miệng, môi hoặc nướu răng hàm dưới 2) Đau mạn tính (chronic pain). 3) Đau theo lối rát, như bị phỏng (burning pain), hay tê tê, thấy rần như kiến bò (tingling). Nhiều khi chỉ mơ hồ là khó chịu, ê đau, không đau rõ rệt. 4) Triệu chứng đi kèm: cảm thấy khô miệng; khẩu vị, vị giác có thể thay đổi (dysgeusia); vd đắng lưỡi, vị kim loại (tanh/metallic taste); nhạy cảm quá đáng với những vị khác nhau; đau lưng mạn tính; ruột quá nhạy cảm dễ đau bụng đi cầu xong lại khỏi (irritable bowel syndrome, IBS); bụng sình hơi; cảm giác nuốt nghẹn (globus pharyngeus); đau bụng lúc có kinh (dysmenorrhea); cảm giác lo lắng (anxiety); ăn không ngon; trầm cảm (depression); rối loạn cá tính (personality disorders). 5) Thời điểm: Ba loại đau: Loại 1: sáng dậy không đau, đau xuất hiện, xong từ từ tăng dần, đau nhất buổi tối lúc giờ đi ngủ nên rất khó ngủ, làm mệt mỏi, lo lắng (nguyên nhân thường gặp là bịnh tiểu đường) Loại 2: đau lúc mới thức dậy và đau suốt ngày (thường gặp nhất) (thường do chứng lo âu) Loại 3: không theo thứ tự nhất định; khi đau khi không, nên để ý tới dị ứng thức ăn. 6) Những tình huống làm bịnh nặng hơn hoặc giảm bớt: a) Thần kinh căng thẳng, mệt, nói nhiều, thức ăn cay, nhiều gia vị. b) Ít đau hơn lúc ăn uống. Nên để ý, trong bịnh đau miệng do lở miệng, đau răng, đau hàm, người bịnh càng đau hơn lúc ăn uống; nếu đau rát miệng mà ăn uống lại bớt đau, thì đây là một dấu chỉ đặc biệt của “hội chứng rát miệng”. Có thể bớt đau nhờ uống thuốc hoặc thoa thuốc tê vào chỗ đau. 7) Cường độ đau: cở trên trung bình (5-8/10), tương tự như đau răng. 8) Có thể làm mất ngủ, nhưng có thể không ảnh hưởng giấc ngủ. 9) Bịnh nhân từng được nhiều bác sĩ khám và chữa nhưng không có kết quả rõ rệt. Nguyên nhân: Theo định nghĩa của BMS, chúng ta chưa hiểu rõ nguyên nhân chứng này, và chỉ định bịnh BMS sau khi loại bỏ những nguyên nhân có cơ sở thể chất cụ thể hơn (như loét do ung thư, đau răng, đau khớp thái dương-hàm dưới (temporomandibular joint, TMJ), viêm dây thần kinh do thiếu vitamin B, folic acid, Fe, zinc; do siêu vi [herpes virus]); suy cơ năng tuyến giáp (hypothyroidism); bịnh tiểu đường (diabetes type 2); dị ứng với thuốc, thức ăn, kim loại trong răng; thuốc hạ áp huyết loại ACE inhibitor (vd lisinopril); bịnh do răng giả (denture) gây khó chịu . Những giả thuyết giải thích BMS: -Những khảo cứu gần đây cho rằng BMS do rối loạn cơ năng các dây thần kinh sọ V, VII, IX phụ trách về vị giác ( cranial nerves V, VII, IX)(neuropathic pain) - Người mãn kinh thiếu hormone estrogen và progesterone - Hiện tượng tự miễn nhiễm (autoimmune), do cơ thể sinh ra những kháng thể chống lại chính mình ( những kháng thể chống nhân (ANA) hay yếu tố phong thấp (rheumatoid factor/RF) có thể hiện diện trong máu trên 50% bịnh nhân; bịnh khô miệng do nước miếng bất bình thường) - Bịnh trầm cảm, bịnh lo lắng có thể kèm theo. Bịnh BMS có thể là một biểu hiện của bịnh thần kinh tâm thể (psychosomatic manifestation, bịnh tâm lý biểu hiện bằng triệu chứng vật thể), chứng sợ ung thư, sợ bịnh phong tình, chứng "bịnh tưởng" (hypochondriasis). - Một số bịnh nhân có thể có thói quen lấy lưỡi chạm vào răng, hay đẩy lên vòm miệng làm gây ra những chấn thương li ti cho lưỡi. - Bịnh Parkinson có thể làm dây thần kinh nhạy với sự đau đớn hơn. - Liên hệ tới một giai đoạn khó khăn, bị stress trong đời, thường là 3-12 năm sau khi tắt kinh. Chữa trị: 1) Loại bỏ các khả năng bịnh đã kể ở trên gây ra triệu chứng khô, rát, đau lưỡi miệng. 2) Nếu không có bịnh đi đôi: bác sĩ cần giải thích cho bịnh nhân yên tâm; giảm lo lắng bịnh nhân, nhất là lo ung thư (cancerophobia), lo bịnh tính dục (sexually transmitted diseases); 3) Nếu cần thuốc an thần (benzodiazepine, vd clonazepam [Klonopin], chlordiazepoxide [Librium]), thuốc chống trầm cảm ba vòng ( tricyclic antidepressant), thuốc chữa trị co giật (anticonvulsivant, vd gabapentin [Neurontin], pregabalin (Lyrica) dùng với mục đích giảm cơn đau do dây thần kinh quá nhạy cảm gây ra.) 4) Capsaicin là một chất lấy từ ớt, có tác dụng làm giảm đau. Có những nghiên cứu cho thấy chất này có thể có ích trong chừng 1/3 các trường hợp. Tuy nhiên ở Mỹ không có thuốc chứa capsaicin để thoa trong miệng. Có nghiên cứu dùng viên capsaicin 0.25% trên 25 người bịnh so sánh với 25 người dùng placebo. Nhóm dùng capsaicin có giảm đau đáng kể nhưng lại bị biến chứng đau dạ dày vì thuốc (Petruzzi). Các khảo cứu còn giới hạn về châm cứu cũng cho thấy có ít kết quả. 5) Tránh thuốc súc miệng có chứa alcohol, kem đánh răng có chứa sodium lauryl sulfate tránh uống rượu, nước pH thấp (acid) như cà phê, nước cam, chanh. 6) Uống những ngụm nước thường xuyên cho miệng khỏi khô, mút nước đá, nhai kẹo cao su không có đường. 7) Các chất khoáng, vitamin: Vitamin B, Zinc, Folate, sắt (iron). Alpha-lipoic acid (ALA) là một chất kháng oxy-hóa (antioxidant) được cơ thể chúng ta sản xuất; trong các thức ăn như gan, tim, broccoli có nhiều ALA. ALA được dùng ở châu Âu nhiều hơn ở Mỹ, như là một chất bổ sung (ALA supplement) trong các trường hợp tiểu đường type 2 (người lớn tuổi), viêm thần kinh do tiểu đường, bịnh HIV và giúp sụt cân cho người mập. Alpha-lipoic acid (ALA) được bán trên thị trường dưới dạng "bổ túc dinh dưỡng"(600mg/ngày trong một tháng) có thể có kết quả giới hạn, tuy nhiên chưa được xác nhận dứt khoát. 8) Có thể cần tâm lý trị liệu (psychotherapy), hành vi trị liệu pháp (biobehavioral techniques). 9) Nên đi khám nha sĩ. Nếu một nguyên nhân vật thể giải thích được chứng đau miệng (ví dụ đi khám răng và thấy răng gần đó hay khớp TMJ gần đó có thể giải thích được cơn đau ở lưỡi) thì những chứng trầm cảm lo lắng có thể được giải toả sau khi giải quyết được bịnh đau miệng/lưỡi. Trong 2/3 trường hợp, bịnh BMS tự nhiên từ từ thuyên giảm, các cơn đau thưa thớt đi và bịnh nhân cuối cùng hết đau. Có thể kéo dài hằng tháng, hằng năm, nhiều năm. Chúc bịnh nhân may mắn. Reference: 1) Grushka M., Burning Mouth Syndrome. Am Fam Physician. 2002 Feb 15;65(4):615-621. http://www.aafp.org/afp/2002/0215/p615.html 2) Wikipedia.org Burning Mouth Syndrome 3) Danny Cheung and Nigel Trudgill  Managing a patient with burning mouth syndrome https://www.ncbi.nlm.nih.gov/pmc/articles/PMC5369598/ 4) Petruzzi M, Lauritano D, De Benedittis M, Baldoni M, Serpico R. Systemic capsaicin for burning mouth syndrome: short-term results of a pilot study. https://www.ncbi.nlm.nih.gov/pubmed/14720197 5)Burning mouth syndrome: a systematic review of treatments. https://www.ncbi.nlm.nih.gov/pubmed/28247977 6)Alpha-Lipoic Acid Useful in Treating Burning Mouth Syndrome https://www.lexi.com/individuals/dentistry/newsletters.jsp?id=june_08 7) https://www.webmd.com/diet/alpha-lipoic-acid-ala#1 Bác sĩ Hồ Văn Hiền Ngày 16 tháng 2 năm 2019 Quý vị có thể xem và nghe lại các bài giải đáp trên mạng Internet ở địa chỉ voatiengviet.com Quý vị muốn được giải đáp các thắc mắc về những vấn đề y học thường thức, xin gọi đến số (202) 205-7890, hoặc E-mail đến địa chỉ .
 

Dịch sởi lan rộng khắp Việt Nam

Truyền thông Việt Nam hôm 19/2 loan tin dịch bệnh sởi hiện lan rộng trên 43 tỉnh, thành phố, đặc biệt tập trung nhiều tại một số tỉnh, thành phố khu vực phía Nam, với 90 phần trăm số ca mắc sởi đều chưa được tiêm phòng hoặc không rõ về tình trạng tiêm phòng.
 

Vòng đeo tay thông minh kiểm tra sức khỏe

Các nhà khoa học đang giúp bệnh nhân chống lại bệnh cúm, tiểu đường và các bệnh khác với sự trợ giúp của đồng hồ thông minh theo dõi tình trạng hóa học cơ thể về lượng đường trong máu, mồ hôi và các dữ liệu khác. Các nhà nghiên cứu tại Đại học Texas ở Dallas cho biết nó cũng có thể giúp các cặp vợ chồng mang thai bằng cách theo dõi tình trạng căng thẳng.
 

Thuốc chữa viêm gan C (Hepatitis C)

Thính giả Lưu Bình hỏi: Thưa Bác sĩ,  Tôi là Bình 64 tuổi, 1999 bị tai nạn giao thông phải mổ sọ 3 lần. . . Sau đó vài năm tôi hiến máu tình nguyện và phát hiện bị nhiễm HCV, Bác sĩ có thể cho tôi biết tên thuốc đặc trị của nó. Ở Việt Nam có thuốc này và tôi được biết công ty sản xuất thuốc này chỉ cung cấp cho các bác sĩ nội nhiễm gan mật! Mong được Bác sĩ giúp đỡ. Chân thành cảm ơn Bác sĩ​. Cảm ơn Bác sĩ” Bác sĩ Hồ Văn Hiền trả lời:  Viêm gan có thể do nhiều nguyên nhân. Nhiễm vi rút là một trong những nguyên nhân thường gặp. Viêm gan C được khám phá sau viêm gan A (1970s) và B (Baruch Bloomberg 1967, HBV vaccine 1969)). Siêu vi gan C chỉ mới được tìm ra vào năm 1989; trước đó người ta chỉ biết viêm gan A và B; nếu không thể nhận diện viêm gan nào đó thì người ta gọi là "viêm gan không phải A hay B" (non A non B hepatitis).Sau đó còn bịnh viêm gan D (delta agent, chỉ đi kèm theo viêm gan B), viêm gan E (1990) và viêm gan G (1995). Bịnh Viêm gan C do virus viêm gan C gây ra (HCV). HCV là một sợi RNA đơn (single stranded RNA). Trước đây, người bị viêm gan sau khi truyền máu, hết 90% là do HCV gây ra. Gần đây, với khả năng sàng lọc (screening, 1992) máu trước khi truyền cho người nhận. Các biện pháp ngăn chặn HCV chỉ mới được CDC đề ra từ năm 1998. Nhiễm HCV sau khi truyền máu rất hiếm ở Mỹ (chừng 2 triệu bịch máu mới có 1 cas HCV). Tuy nhiên, đại đa số người bị viêm gan C hiện nay là do dùng thuốc ma tuý chích (intravenous drug use), hít cocain qua mũi, xăm mình và ở mức ít hơn, qua đường tính dục vì làm tình mà không dùng biện pháp an toàn để che chở (sexual transmission [by unprotected sex]). Trong số người bị nhiễm HCV cấp tính, chỉ một số ít có triệu chứng; như buồn nôn, vàng da (jaundice), nước tiểu vàng khè, đau bụng bên phải, phía trên (vùng gan). Triệu chứng kéo dài chừng 2 tuần đến 4 tháng. 86% -50% sẽ tiếp tục trở thành viêm gan C mãn tính (kinh niên)( chronic hepatitis C). Tuỳ theo nhóm người: trẻ em có khả năng dứt HCV chừng 50%; người có triệu chứng có khả năng tự thanh toán HCV (cure) cao hơn người không triệu chứng (asymptomatic cases). Sau 20 năm, 20% bịnh nhân sẽ bị xơ gan, chai gan (liver fibrosis, cirrhosis), nhất là những bịnh nhân phái nam, uống rượu nhiều và mắc bịnh sau 40 tuổi. Lúc bịnh mới bắt đầu, trong thời kỳ cấp tính, bác sĩ định bịnh HCV bằng cách phát hiện RNA (ribonucleic acid) của HCV trong máu bịnh nhân (có thể phát hiện được vài ngày cho đến vài tuần sau khi bị nhiễm với phương pháp PCR [Polymerase Chain Reaction]), sau đó nếu phát hiện thêm được kháng thể (antibodies) chống HCV, thì xác định bịnh. Theo hướng dẫn mới nhất của Canada (Canadian Association for the Study of the Liver, 2018) xét nghiệm kháng thể chống HCV là xét nghiệm chẩn đoán được lựa chọn để sàng lọc ban đầu (initial screening). Nếu dương tính, xét nghiệm phản ứng chuỗi HCV RNA polymerase xác nhận là cần thiết để xác nhận nhiễm trùng mãn tính. Ở những người mà siêu vi từng bị thanh toán tự phát (spontaneous clearance) hoặc do điều trị trước đó và những người nghi ngờ nhiễm trùng cấp tính (acute infection), HCV RNA là xét nghiệm sàng lọc được lựa chọn vì xét nghiệm kháng thể kháng HCV vẫn dương tính suốt đời một khi đã nhiễm virus, ngay cả sau khi thanh toán HCV tự phát hoặc do điều trị. Những nhóm tại Canada sau đây nên screen thử HCV: 1) Những người sinh giữa 1945-1975 2) Các yếu tố cơ nguy: -Bệnh sử có sử dụng ma túy hiện tại hoặc trong quá khứ (thậm chí một lần) -Nhận dịch vụ chăm sóc sức khỏe hoặc dịch vụ cá nhân ở những nơi thiếu các biện pháp phòng ngừa và kiểm soát nhiễm trùng -Nhận được truyền máu, các sản phẩm máu hoặc cấy ghép nội tạng trước năm 1992 tại Canada -Trong quá khứ hoặc hiện tại bị giam giữ -Sinh ra hoặc cư trú tại khu vực có tỷ lệ mắc viêm gan C> 3%, như: Trung, Đông và Nam Á; Australasia và Châu Đại Dương (Oceania); Đông Âu; Tiểu vùng Châu Phi dưới sa mạc Sahara; Bắc Phi hoặc Trung Đông -Con của người mẹ bị nhiễm HCV -Bệnh sử quan hệ tình dục hoặc chia sẻ vật phẩm chăm sóc cá nhân với người bị nhiễm HCV -Nhiễm HIV, đặc biệt là nam giới có quan hệ tình dục với nam giới -Điều trị chạy thận nhân tạo mãn tính -Mức alanine aminotransferase trong máu tăng cao quá mức bình thường Chữa trị: Vì một số đáng kể bịnh nhân HCV cấp tính sẽ tự mình khắc phục được bịnh, bác sĩ điều trị chỉ chữa bằng thuốc nếu thấy cần, sau khi quan sát một thời gian (ví dụ 12 tuần), xét tình trạng sức khỏe người bịnh, và xét các yếu tố cơ nguy bịnh trở thành mãn tính. Trước đây (1991-2014) thuốc chính là interferon hay pegylated interferon (chích) (peginterferon , “Pegintron”) trong nhiều tuần. Interferon kích thích các tế bào phòng thủ sản xuất kháng thể nhiều hơn. Thuốc có thể gây những biến chứng quan trọng (mắt, máu, phổi). Chừng 50% bịnh nhân được chữa khỏi HCV. Mấy năm gần đây (sau 2014) một số thuốc uống, ( “DAA”=Direct Acting Antivirals) được FDA chấp nhận dùng chữa bịnh viêm gan C, nhưng rất đắt tiền : ví dụ : Sovaldi (sofosbuvir, FDA approved 12-2013, Gilead Sciences; giá 1000 đô la một viên và tốn 84.000 đô la cho 12 tuần), Harvoni (sofosbuvir-ledipasvir); giá 94,500 dollars cho 12 tuần (thuốc ức chế men RNA polymerase cần cho virus sinh tồn, approved for a HCV types 1,4,5,6). Ở Mỹ giá mà các cơ quan bảo hiểm hay chính phủ Medicare, Medicaid) phải trả cho thuốc có thể thấp rất nhiều hơn giá chính thức này (wholesale acquisition price), tùy theo các thương lượng giữa nhà thuốc và các cơ quan đài thọ cho chi phí. Tuy nhiên giá sản xuất cho nhà thuốc (production cost) lại còn thấp hơn rất nhiều. Để sản xuất những viên thuốc sofosbuvir dùng trong 12 tuần lễ này có thể nhà sản xuất chỉ tốn kém chừng trên dưới 100 đô la Mỹ. Giá gần 100.000 đô la niêm yết cho những viên thuốc này được nhà sản xuất giải thích là họ phải tính vào đó những chi phí về nghiên cứu và phát triển để tìm ra những thứ thuốc như vậy. Năm 2018 ở Việt Nam tại Hải Phòng có một chương trình khảo cứu trên lâm sàng về chữa trị viêm gan C. Công trình khảo cứu này dùng những thuốc sau đây để chữa bệnh viêm gan C bệnh viêm gan được bảo trợ bởi Viện y tế quốc gia của Pháp và quốc gia về khảo cứu Bệnh HIV và bệnh gan của Pháp.(French National Institute for Health and Medical Research-French National Agency for Research on AIDS and Viral Hepatitis (Inserm-ANRS) Drug: Sofosbuvir 400 mg and Daclatasvir 60 mg Drug: Sofosbuvir 400 mg and Daclatasvir 90 mg Drug: Ribavirin Drug: Sofosbuvir and Daclatasvir for 24 weeks (https://clinicaltrials.gov/ct2/show/NCT03537196) Nói chung sau khi nhiễm virus gan C, trong sáu tháng đầu, chừng 25 % (10-50%) bệnh nhân có khả năng tự hồi phục. Sau đó điều trị bệnh viêm gan C do các bác sĩ chuyên môn về bệnh nhiễm hay bệnh gan phụ trách. Những cơ quan hướng dẫn chuyên môn về bịnh gan ( như European Association for the Study of the Liver, the American Association for the Study of Liver Disease and Infectious Disease Society of America, Canadian Association for the Study of the Liver) đã phát triển những phác đồ điều trị khá phức tạp tùy theo hoàn cảnh y tế và dân số của mỗi vùng để các bác sĩ chuyên môn áp dụng cho những tình huống khác nhau về đặc điểm di truyền của Virus (genotype of HCV), về các biến chứng đã xảy ra như xơ gan (fibrosis, cirrhosis ), cơ năng gan của người bệnh. Nói chung thuốc được dùng trong vòng 3-6 tháng và kết quả khả quan. Theo WHO, Việt Nam đang phát triển một chương trình chữa bệnh viêm gan C. Chưa thể tìm thấy là phác đồ điều trị sẽ áp dụng ở Việt Nam như thế nào và không thể trả lời câu hỏi của vị thính giả hỏi về tên thuốc chữa trị viêm gan C mà có thể vị thính giả đã được đề nghị dùng chữa bệnh. Nói cách khác hiện nay có rất nhiều thứ thuốc khác nhau dùng trong việc chữa bệnh viêm gan C đòi hỏi kỹ năng của người điều trị điều trị và cũng đòi hỏi một nguồn tài chánh rất cao vì những thuốc này rất đắt tiền. Tốt hơn hết bệnh nhân nên hỏi các bác sĩ chuyên môn về bệnh gan C và có khả năng cung cấp cho mình những thuốc cần thiết, có thể là được tài trợ bởi chính phủ Việt Nam, bởi các cơ quan bảo hiểm y tế hay là các cơ quan y tế quốc tế ví dụ như WHO. References; 1)The management of chronic hepatitis C: 2018 guideline update from the Canadian Association for the Study of the Liver http://www.cmaj.ca/content/190/22/E677 2) Cost and Access to Direct-Acting Antiviral Agents https://www.hepatitisc.uw.edu/pdf/evaluation-treatment/cost-access-medications/core-concept/all 3) A Brief History of Hepatitis http://www.cevhap.org/index.php/en/about-viral-hepatitis/a-brief-history-of-hepatitis Bác sĩ Hồ Văn Hiền Ngày 27 tháng 2, 2019 Quý vị có thể xem và nghe lại các bài giải đáp trên mạng Internet ở địa chỉ voatiengviet.com Quý vị muốn được giải đáp các thắc mắc về những vấn đề y học thường thức, xin gọi đến số (202) 205-7890, hoặc E-mail đến địa chỉ .